vanban.org

Quyết định 121/2018/QĐ-PT — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/01/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị H. 2.

Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao (Tại Tp.HCM);

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Đỗ Thị H - Ủy ban nhân dân phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị H. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 121/2018/QĐ – PT
Thành phố Hồ Chí Minh,ngày 25 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thoa Các Thẩm phán:

Ông Bùi Liên Minh

Bà Phan Thị Út

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Mai Thị Công Hoa

Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp:

Ông Phan Ngọc Khanh – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 11/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2017.

Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” giữa:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H; sinh năm 1965; địa chỉ thường trú: 71 đường số S, khu phố B, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: 16 (số cũ 72) đường B khu phố N, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Bị đơn: Ủy ban nhân dân phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 616 đường Đ, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thu T và ông Nguyễn Văn V, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền lập ngày 30/6/2017);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, là luật sư của Văn phòng luật sư D thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 48 đường N, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân Quận C Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 2/304 đường X khu phố M, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Minh C, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền lập ngày 13/12/2016); Người làm chứng: Ông Trần Quang Thanh T

Bà Lê Thị Cẩm N

Ông Lê Hoàng T

Ông Nguyễn Văn T

Ông Lê Hoàng L

Bà nguyễn Thị Cẩm L Cùng địa chỉ: Ban quản lý chợ P, số 74 Đại lộ II, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đơn kháng cáo ngày 20 tháng 9 năm 2017, nguyên đơn bà Đỗ Thị H kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 11/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận C để Tòa án nhân dân Quận C tiếp tục giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật với lý do Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí minh ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên trái pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến tại phiên họp phúc thẩm: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY

- Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị H trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tiến hành vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 05/7/2017, bà H đã nhận được thông báo và giấy triệu tập về thời gian và địa điểm tiến hành phiên họp nêu trên nhưng vắng mặt không lý do. Tòa án nhân dân Quận C đã tiến hành phiên họp vắng mặt bà H. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được mở lần hai vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 12/9/2017, bà H đã nhận được thông báo và giấy triệu tập về thời gian và địa điểm tiến hành phiên họp nêu trên nhưng vắng mặt.

Bà H xác nhận bà có nhận được giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án hai lần vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 05/7/2017 và ngày 12/9/2017. Lần thứ nhất bà vắng mặt vì không nhớ ngày. Lần thứ hai bà vắng mặt vì bà bị bệnh nặng phải đến khám tại bệnh viện Y dược S, bác sĩ chẩn đoán bà bị cao huyết áp nặng, viêm mũi và cảm. Bác sĩ chỉ định bà nằm lại bệnh viện để theo dõi và điều trị. Do đó, vào khoảng 8 giờ 45 phút bà có gọi điện cho Thẩm phán xin hoãn phiên họp vì lý do trên nhưng Thẩm phán không đồng ý. Tòa cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 điều 217 đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật vì việc vắng mặt lần thứ hai của bà có lý do bất khả kháng (đương sự bị ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu) quy định tại Điều 28 Nghị quyết 05/2012/NQ-NĐTP ngày 02/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bà H cung cấp chứng cứ là toa thuốc của Công ty cổ phần bệnh viện y dược S lập ngày 12/9/2017 với nội dung chẩn đoán bà H bị tăng huyết áp, viêm mũi họng, cảm thường và được kê toa các loại thuốc Amlodipin, paradol cảm cúm và Upsa C, đề nghị cần nghỉ ngơi, tránh vận động. Như vậy, lý do vắng mặt của bà H không thuộc trường hợp bất khả kháng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Nghị quyết 05/2012/NQ-NĐTP ngày 02/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bà H không xuất trình được giấy nhập viện cũng như chứng cứ chứng minh tình trạng bệnh nặng của bà H.

Tại phiên họp phúc thẩm, bà H trình bày bà không nhập viện ngày 12/9/2017. Tuy nhiên bà H cho rằng bà đã có đơn gửi Tòa án yêu cầu không đồng ý tiến hành hòa giải nhưng tòa vẫn tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là trái quy định pháp luật. Hội đồng phúc thẩm xét thấy trong hồ sơ vụ án không có đơn yêu cầu Tòa án không hòa giải của bà H và tại phiên họp phúc thẩm bà H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Mặt khác, việc Tòa cấp sơ thẩm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ khi có chứng cứ mới là đúng quy định pháp luật. Do đó lời trình bày của bà H không có cơ sở để xem xét.

Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết vụ án theo đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2017 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận và cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Về án phí lao động phúc thẩm: Bà Đỗ Thị H không phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 28 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án; Bởi các lẽ trên, Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị H. 2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 11/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Án phí lao động phúc thẩm: Bà Đỗ Thị H không phải chịu án phí lao động phúc thẩm. Trả lại cho bà Đỗ Thị H 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí thúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0003362 ngày 29/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ