vanban.org

Bản án 75/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc kéo cắt chỉ bằng kim loại có chiều dài 10cm, phần lưỡi dài 4cm; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn G; 01 chiếc điện thoại Nokia- C1 vỏ màu trắng đã cũ và số tiền 127.000đ Về án phí và quyền khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Giang - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
GTÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 75/2017/HSST
Ngày 29/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Giới;

2. Ông Nguyễn Hữu Thái.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương, cán bộ Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc G.

Đại diện VKSND huyện N tham gia phiên toà: Ông Thân Mạnh Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc G. Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2017/HSST ngày 06/7/2017 đối với bị cáo:

NguyÔn V¨n G, sinh n¨m 1985. Tªn gäi kh¸c: Kh«ng; N¬i §KHKTT: X· Yªn S¬n, huyện N, tỉnh B¾c G; N¬i ë: Th«n Ch¶n §ång, x· Yªn S¬n, huyện N, tỉnh B¾c G; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 8/12; Con ông NguyÔn V¨n T (®· chÕt);và bà Gi¸p ThÞ T; Vợ: D ¬ng ThÞ T; Con có 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 29/3/2016, của Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Lôc Nam, tØnh B¾c G xử phạt NguyÔn V¨n G 07 th¸ng tï vÒ téi “Trém c¾p tµi s¶n”. Ngµy 15/7/2016, NguyÔn V¨n G chÊp hµnh xong h×nh ph¹t tï vµ trë vÒ ®Þa ph ¬ng.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tõ ngµy 18/4/2017 ®Õn nay “có mặt”.

* Người bị hại:

Chị Thân Thị L, sinh 1991 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn B, TT Đ, huyện N, tỉnh Bắc G.

NHẬN THẤY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 18/4/2017, Nguyễn Văn G từ nhà ra bắt xe buýt đi đến ngã tư Thân, thị trấn Đồi Ngô, huyện N chơi, đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì G vào chợ Thanh Xuân ở thị trấn Ngđể xem và mua hàng. Khi đi đến cửa hàng bán dưa hấu của chị Thân Thị L, G rẽ vào để hỏi mua dưa hấu thì thấy phía bên trái cửa hàng theo hướng từ ngoài nhìn vào có một chiếc giỏ treo cạnh cửa, trên giỏ có chiếc điện thoại Samsung galaxy S3 vỏ màu trắng có bao da màu xanh đang cắm sạc pin. Lúc này, G đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của chị L. G lấy lý do chọn quả dưa hấu phía góc trong của cửa hàng để chị Lquay vào lấy dưa, khi chị Lquay mặt đi vào lấy dưa bán cho G thì G cho tay vào giỏ, rút sạc pin lấy điện thoại Samsung galaxy S3 cầm trên tay. Ngay lúc này chị Thân Thị Lợi, sinh năm 1986, trú tại thôn Hà Tú, xã Chu Điện, huyện N đang bán hàng hoa quả cạnh chị Lnhìn thấy và hô “Ơ sao lại lấy điện thoại”, nghe thấy chị Lợi hô nên chị Lngoảnh mặt lại thấy G cầm điện thoại của mình trên tay và bỏ chạy, chị Lhô hoán “cướp, cướp…”, G cầm điện thoại chạy ra đường Quốc lộ 31 về hướng bến xe khách N. Chị Luyến, chị Lợi và quần chúng nhân dân đuổi theo, G chạy ra phía cây xăng vứt lại điện thoại ở rìa đường rồi chạy xuống cánh đồng lúa thì bị anh Nguyễn Văn Chức, sinh năm 1984 ở phố Thanh Xuân, thị trấn Đồi Ngô, huyện N bắt giữ được rồi cùng mọi người đưa G về Công an huyện N để giải quyết. Chị Lợi đã nhặt điện thoại do G vứt lại và đưa lại cho chị L.

Cùng ngày 18/4/2017, chị Thân Thị L làm đơn trình báo Công an huyện N về việc bị trộm cắp chiếc điện thoại tại cửa hàng bán dưa hấu trong chợ Thanh Xuân và giao nộp cho C¬ quan C¶nh s¸t ®iÒu tra Công an huyện N chiếc điện thoại Samsung galaxy S3 vỏ màu trắng, có bao da màu xanh là vật chứng của vụ án để phục vụ giải quyết vụ án.

Ngày 20/4/2017, C¬ quan C¶nh s¸t ®iÒu tra Công an huyện N ra quyết định trưng cầu định giá tài sản. Ngày 21/4/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N định giá tài sản và kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung galaxy S3 vỏ màu trắng có bao da màu xanh giá trị là 840.000đ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn G đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Người bị hại chị Thân Thị Ltrong quá trình điều tra khai, vào khoảng 15 giờ ngày 18/4/2017, chị bị Nguyễn Văn G trộm cắp 01 chiếc điện thoại Samsung galaxy S3 vỏ màu trắng, có bao da màu xanh. Nay chị đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Bản cáo trạng số 51/KSĐT ngày 06/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc G đã truy tố Nguyễn Văn G tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/4/2017. Miễn hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo thuộc hộ nghèo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc kéo cắt chỉ bằng kim loại có chiều dài 10cm, phần lưỡi dài 4cm; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn G; 01 chiếc điện thoại Nokia- C1 vỏ màu trắng đã cũ và số tiền 127.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, lời khai của người bi hại cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 18/4/2017, tại cửa hàng bán dưa hấu của chị Thân Thị Ltrong chợ Thanh Xuân, thị trấn Đồi Ngô, huyện N, Nguyễn Văn G đã lợi dụng lúc chị Lsơ hở, mất cảnh giác không quản lý tài sản, G đã trộm cắp điện thoại Samsung galaxy S3 vỏ màu trắng có bao da màu xanh để ở cửa quán của chị Lvà Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N định giá tài sản có trị giá là 840.000đ. NguyÔn V¨n G đã bị kết án tại bản án số 18/2016/HSST ngày 29/3/2016, của Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Lôc Nam, tØnh B¾c G xử phạt NguyÔn V¨n G 07 th¸ng tï vÒ téi “Trém c¾p tµi s¶n” và chưa được xóa án tích. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã một lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy lần phạm tội này cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm phần nào hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền, do bị cáo G thuộc hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Do những tài sản thu giữ của bị cáo không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc kéo cắt chỉ bằng kim loại có chiều dài 10cm, phần lưỡi dài 4cm; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn G; 01 chiếc điện thoại Nokia- C1 vỏ màu trắng đã cũ và số tiền 127.000đ

Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo G thuộc hộ nghèo nên căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/4/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc kéo cắt chỉ bằng kim loại có chiều dài 10cm, phần lưỡi dài 4cm; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn G; 01 chiếc điện thoại Nokia- C1 vỏ màu trắng đã cũ và số tiền 127.000đ

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 99, 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn G.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc G;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện N;

- Công an huyện N;

- Chi cục THADS huyện LN;

- UBND xã S;

- Bị cáo, bị hại.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Giới Nguyễn Hữu Thái

Nguyễn Thị Linh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc G;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện N;

- Công an huyện N;

- Chi cục THADS huyện LN;

- UBND xã S;

- Bị cáo, bị hại.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Giới Nguyễn Hữu Thái

Nguyễn Thị Linh

Cỡ chữ