vanban.org

Bản án 75/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Văn B phạm tội “Đá nh bạ c”.

Về hình phạt: Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m c khoả n 2 Điề u 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn Bắc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Văn B phạm tội “Đá nh bạ c”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TAND HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2017/HSST
Ngày 26/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lành Văn Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Hoàng Anh

2. Bà Lương Quỳnh Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Hoà ng Duy Khá nh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2017/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Lý Văn B, sinh ngµy 14/11/1984

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; con ông: Lý Văn T (đã chế t) và con bà Vi Thị L, sinh năm 1947; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là nhỏ nhất; vợ Lý Thị K, sinh năm 1985; có 02 ngườ i con, lớ n nhấ t sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền sự: Không có.

Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 15/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù, phạt bổ sung 8.000.000đ về các tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng bản án số 21/2014/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, về án phí, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 03/7/2017 đến nay. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lý Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 23 giờ 15 phút ngày 11 tháng 5 năm 2017 tại nhà Chu Văn Th sinh ngày 15/6/1976 ở Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Công an huyện H bắt quả tang vụ đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh bi-a, bắt giữ Chu Văn Th, Chu Minh Đ, Lưu Văn N, Hoàng Xuân Tr, Vi Văn L, Đinh Văn T, Vi Khánh T cùng trú tại Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vật chứng thu giữ gồm:

Số tiền 90.000đ thu trên mặt bàn, 01 bàn bi-a, 04 gậy chọc bi-a, 14 quả bóng bi-a trong đó 01 quả bóng không có số và 13 quả bóng có số lần lượt từ 01 đến 13, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; thu trên người Chu Minh Đ số tiền 163.000đ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Chinamobile 4G màu đen; thu trên người Lưu Văn N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobile Star màu đen; thu trên người Hoàng Xuân Tr số tiền 5.265.000đ, 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc nhãn hiệu Iphone màu trắng và 01 chiếc nhãn hiệu Nokia 1200 màu xanh; thu trên người Vi Văn L số tiền 890.000đ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen; thu trên người Đinh Văn T số tiền 630.000đ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng; thu trên người Vi Khánh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu trắng; thu trên người Chu Văn Th số tiền 540.000đ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ:

Buổi tối ngày 11 tháng 5 năm 2017, Hoàng Ngọc H và Lý Văn L cùng trú tại Thôn T, xã V đến quán nhà Chu Văn Th để đánh bi-a, uống nước thì gặp Chu Văn T là con trai của Chu Văn Th. Lúc này Hoàng Ngọc H, Lý Văn L và Chu Văn T cùng rủ nhau đánh bi-a, mỗi ván 10.000đ lấy tiền trả tiền nước uống. Sau đó Lý Văn B và Lương Văn N, cùng trú tại Thôn T, xã V cũng đến quán nhà Chu Văn Th. Khi thấy nhóm của H, L, T kết thúc ván bi-a thì Lý Văn B, Lương Văn N, Chu Văn Th xin vào đánh cùng thì Chu Văn T nghỉ không đánh nữa. Tất cả 05 người gồm Lý Văn B, Hoàng Ngọc H, Lý Văn L, Lương Văn N và Chu Văn Th cùng nhau đánh bi-a sát phạt nhau bằng tiền, mỗi người 10.000đ/ván. Lý Văn B đánh 02 ván thua hết 20.000đ mang theo nên nghỉ và đi về nhà, Chu Văn Th cũng nghỉ không đánh nữa. Sau đó Chu Minh Đ, Lưu Văn N, Hoàng Xuân Tr, Vi Văn L, Đinh Văn T, Vi Khánh T đến quán của Chu Văn Th và tiếp tục tham gia đánh bi-a sát phạt nhau bằng tiền với hình thức tương tự. Trong quá trình đánh bi-a thì có người tham gia, có người đứng xem không cố định, sau đó Hoàng Ngọc H, Lý Văn L, Lương Văn N nghỉ về trước.Những người còn lại tiếp tục ở quán vừa đánh bi-a vừa uống nước đến hồi 23h15’ thì bị Công an huyện H bắt quả tang, trong đó còn 02 người đang đánh bi-a là Đinh Văn T và Chu Minh Đ.

Hình thức đánh bi-a sát phạt nhau bằng tiền của các đối tượng như sau: Dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chia đều cho mỗi người 06 quân, số bài còn lại để riêng, quy ước quân A là số 01, quân từ 02 đến 09 có số tương ứng, quân J là 11, quân Q là 12, quân K là 13. Xếp 14 quả bóng bi-a vị trí quy định trên mặt bàn trong đó những quả bóng có số từ 01 đến 13 xếp cùng nhau, quả bóng bi-a không có số xếp riêng, 02 quả bóng có số 14, 15 không sử dụng. Mọi người lần lượt dùng gậy chọcquả bóng không số chạm vào những quả có số để đưa những quả bóng có số tương ứng với số quân bài được chia xuống lỗ theo thứ tự từ thấp đến cao. Số lần chọc gậy của mỗi người không hạn chế, nhưng nếu có lần chọc gậy không đưa được quả bóng có số nào xuống lỗ thì phải dừng lại để chuyển quyền chọc gậy cho người tiếp theo. Người đầu tiên đưa được hết những quả bóng có số tương ứng với số quân bài được chia xuống lỗ là thắng và được tiền của những người thua đồng thời là người có quyền chọc lượt gậy đầu tiên của ván tiếp theo. Mỗi người thua phải trả cho người thắng 10.000đ/ván.

Tại thời điểm Lý Văn B đánh bạc có tất cả 05 người, do vậy mỗi ván bạc sử dụng số tiền 50.000đ, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc trong 02 ván là 100.000đ. Mỗi ván bạc Chu Văn Th thu của người thắng gồm Hoàng Ngọc H và Lương Văn N 3.000đ là tiền thuê bàn, nên số tiền Chu Văn Th thu được trong 02 ván là 6.000đ.

Tại thời điểm Lý Văn B đánh bạc cùng Chu Văn Th, Hoàng Ngọc H, Lý Văn L, Lương Văn N, số tiền đánh bạc là 100.000đ; trong đó Lý Văn B có 01 tiền án về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc đến ngày 11/5/2017 chưa được xóa án tích. Chu Văn Th, Hoàng Ngọc H, Lý Văn L, Lương Văn N không có tiền án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.Chu Minh Đ, Lưu Văn N, Hoàng Xuân Tr, Vi Văn L, Đinh Văn T, Vi Khánh T, Chu Văn T không có tiền án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là dưới 5 triệu đồng.

Do không đủ căn cứ để xử lý hình sự; Công an huyện H đã xử lý hành chính đối với Chu Văn Th, Hoàng Ngọc H, Lý Văn L, Lương Văn N, Chu Minh Đ, Lưu Văn N, Hoàng Xuân Tr, Vi Văn L, Đinh Văn T, Vi Khánh T, Chu Văn T.

Đối với các vật chứng đã thu giữ là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội gồm:

01 bàn bi-a; 04 gậy chọc bi-a; 14 quả bóng bi-a; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là của Chu Văn Th được các đối tượng dùng để đánh bạc trái phép.

Số tiền 100.000đ tại thời điểm có Lý Văn B tham gia đánh bạc.

Hiện các vật chứng đã được xử lý theo vụ việc xử lý hành chính; còn tạm giữ 100.000đ.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lý Văn B giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố, sau khi phân tích, đánh giá các căn cứ buộc tội và đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Lý Văn B phạm tội “Đá nh bạ c”.

Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; các Điều 33, 45 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điể m b khoả n 1 Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m c khoản 2 Điề u 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quy Nhà nước số tiền mà bị cáo sử dụng đánh bạc là 100.000đ.

Tại phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, cũng như về mức hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Lý Văn B phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lờ i khai củ a nhữ ng ngườ i là m chứ ng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, bản cáo trạng truy tố bị cá o Lý Văn B phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự là đúng người, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t, không oan.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi đó đang là một trong những tệ nạn bị xã hội lên án, cần phải bài trừ, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong dư luận xã hội. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền để tiêu sài cá nhân nên đã tham gia đánh bạc bằ ng hình thứ c đánh bi a và hơn hết là vì mục đích hám lợi nên bị cáo phải chịu một mức hình phạt thậ t nghiêm khắ c tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì cũng phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt:

Hành vi đánh bạc của bị cáo không có sự bàn bạc, tổ chức, số tiền đánh bạc không lớn. Truy nhiên, bị cáo Lý Văn B đã có 01 tiền án, ngày 15/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù, phạt bổ sung 8.000.000đ về các tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng bản án số 21/2014/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 về số tiền đánh bạc từ 2.000.000 đồng là phạm tội đánh bạc. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 số tiền đánh bạc từ 5.000.000đ hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc chưa được xóa án tích mới phạm tội đánh bạc

Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Khoản 3 Điều 7, Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Như vậy hành vi của bị cáo Lý Văn B đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền sự; về tiền án, có 01 tiền án. Ngày 15/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù, phạt bổ sung 8.000.000đ về các tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng bản án số 21/2014/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, nên bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng: Tiền án của bị cáo đã được áp dụng tình tiết định tội, định khung hình phạt nên không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải nên bị cá o đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ quy đinh tại điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự ; ngoài ra bị cáo có bố là ông Lý Văn T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương khánh chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba nên bị cáo đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự theo quy đị nh tạ i khoản 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự .

Từ những phân tích trên khi lượng hình cần quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bảo đảm tính răn đen, giáo dục và phòng ngừa chung. Nhưng cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ phần nào về hình phạt đối với bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với những người biết ăn năn hối cải để sửa chữa sai lầm.

Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Lý Văn B là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, qua xác minh và làm rõ tại phiên tòa, gia đì nh bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Cần tịch thu sung công quy Nhà nước số tiền mà bị cáo sử dụng đánh bạc là 100.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn B phạm tội “Đá nh bạ c”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; các Điều 33, 45 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn B 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 03/7/2017.

3. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m c khoả n 2 Điề u 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quy Nhà nước số tiền mà bị cáo sử dụng đánh bạc là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng chẵn).

(VËt chøng trªn hiÖn ® îc t¹m gi÷ t¹i Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn H÷u Lòng theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 14/9/2017).

4. Về án phí: Áp dụng kho¶n 2 §iÒu 99 Bé luËt tè tông h×nh sù; kho¶n 1 §iÒu 23 Nghị quyết sè: 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 cña UBTVQH khãa 14 quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.

Buộc bị cáo Lý Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ