vanban.org

Bản án 74/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 04/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo 01 năm 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đèo Văn Toản - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 74/2025/HS - ST
Ngày 04 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thủy, Ông Vàng A Nếnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đèo Văn T (tên gọi khác Đèo Văn L) – Sinh năm 1982 tại huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Đèo Văn H và bà Quàng Thị Y; Bị cáo có vợ là Lò Thị T1 và có 02 con (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án số 19/2015/HSST Ngày 30/11/2015.

Bị cáo bị tạm giữ từ 13/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 22/12/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 25 phút ngày 13/12/2024 tổ công tác Công an xã C, huyện S làm nhiệm vụ rà soát người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy tại bản B, xã C, huyện S đã đến nhà Đèo Văn T làm nhiệm vụ. Quá trình làm việc đã phát hiện bắt quả tang T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ từ túi quần bên trái đang mặc của T 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và 02 viên nén màu hồng, T khai nhận là Heroine và Hồng phiến cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ vật chứng nghi ma túy.

Ngày 14/12/2024, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ, kết quả:

- 02 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,19 gam, sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu T1;

- Số chất bột màu trắng có tổng khối lượng 0,24 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu T2.

Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam.

Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,24 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 0,19 gam ma túy loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 13/12/2024 Đèo Văn T mang theo số tiền 200.000 đồng đi bộ từ nhà đến bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đến đầu bản Nà Sèo thì T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ ở ven đường, T nói chuyện và hỏi mua được ma tuý gồm 03 viên Hồng phiến và một ít Heroine được đựng trong một gói nilon màu hồng từ người đàn ông với số tiền 200.000 đồng. Mua được ma túy T trích một phần nhỏ Heroine và 01 viên Hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma tuý xong, T gói lại 02 viên Hồng phiến và Heroine bằng nilon màu hồng cất giấu vào trong túi quần đùi phía trước bên trái đang mặc, T vứt bật lửa ga và mảnh giấy bạc rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 14 giờ 25 phút cùng ngày, thì tổ công tác của Công an xã C, huyện S đến làm nhiệm vụ test thử ma tuý đối với T đã phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSSM ngày 07 tháng 3 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Đèo Văn T (tên gọi khác Đèo Văn L) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đèo Văn T (tên gọi khác Đèo Văn L) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 10 tháng - 02 năm 02 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 mảnh nilon được đưa vào hồ sơ vụ án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với nội dung bản cáo trạng truy tố, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 13/12/2024 đối với Đèo Văn T cùng vật chứng là một gói nilon chứa chất bột màu trắng và 02 viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam, loại Heroine (Heroine)…; 0,19 gam ma túy loại Methamphetamine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/12/2024 khi bị cáo Đèo Văn T (tên gọi khác Đèo Văn L) đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,24 gam ma túy loại Heroine và 0,19 gam ma túy loại Methamphetamine (Tổng khối lượng hai chất là 0,43 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, thuộc trường hợp nghiêm trọng

Như vậy, nội dung Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có mẹ đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì và Huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, bản thân đã từng bị kết án phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng sau khi chấp hành án xong bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí làm ăn lương thiện, từ bỏ ma túy mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy ý thức coi thường pháp luật và tính khó giáo dục cải tạo của bị cáo.

Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, khi lượng hình cần phải đưa ra một mức án tương xứng, phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc điểm về nhân thân bị cáo để đưa ra một mức án phù hợp nhất nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật mà vẫn đảm bảo biện pháp giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã làm mẫu gửi giám định hết, còn lại còn lại 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 mảnh nilon đã được đưa vào hồ sơ vụ án để lưu giữ nên không còn vật chứng để đề cập xử lý tại bản án.

Các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có đủ căn cứ để mở rộng điều tra là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 và Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đèo Văn T (tên gọi khác Đèo Văn L) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo 01 năm 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Các Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/4/2025)./.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thủy

Vàng A Nếnh

Hoàng Thị Nhung

Cỡ chữ