vanban.org

Bản án 74/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 15/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cao Lê D phạm Tội “ Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo: Cao Lê D (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 ( hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Lê D - Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Lê D phạm Tội “ Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 74/2023/HSST.
Ngày: 15/5/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bá Lộc.

2. Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký tòa án huyện Long Điền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/5/2023 TAND huyện Long Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/HSST ngày 03/4 /2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/HSST-QĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Cao Lê D, sinh năm 2001. Tại: Tỉnh Bình Định. Nơi thường trú: Thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Nơi tạm trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Cao Văn H, sinh năm 1967; Mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1979. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có hai người con; Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm số 37/LC-.ĐCSHS-KTMT ngày 04/01/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện L. Hiện bị cáo đang cư trú tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án:

Do cần tiền tiêu xài Cao Lê D đã nảy sinh ý định buôn bán hàng cấm là pháo hoa nổ. Vào khoảng 19 giờ ngày 09/11/2022, khi đang ngồi tại Quán cà phê “Kim Tơ” thuộc xã P, huyện L, D gặp một người bạn tên N1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) nên D hỏi N1 việc mua bán pháo hoa. Sau khi thỏa thuận và N1 đồng ý bán cho D 05 bệ pháo hoa loại 49 ống với giá là 1.000.000 đồng một bệ và hẹn D ra khu vực “Kim Tơ”, xã P, huyện L để giao nhận pháo và tiền. Khi mua được pháo, D đem về nơi ở của mình tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để cất giấu. Đến ngày 23/11/2022 có một thanh niên lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện cho D hỏi mua 05 bệ pháo hoa. D đồng ý bán pháo cho thanh niên trên với giá là 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng) một bệ, tổng cộng là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng) và hẹn địa điểm mua bán pháo gần nhà thờ H1, thuộc ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Lúc này, D lấy 05 bệ pháo bỏ vào bao tải màu xanh đen để lên baga xe mô tô loại Sirius màu vàng đen, biển số 72K1-048.38 rồi chở đến địa điểm đã hẹn nhưng chưa kịp giao pháo cho người thanh niên trên đã bị Công an xã P kiểm tra bắt quả tang D cùng vật chứng.

Kết luận giám định số 6471/KL-KLHS ngày 12/12/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 8.6 kg. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình giống như Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.

1. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 31/3/2023 về Tội ‘Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử:

1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; áp dụng Điều 65 BLHS. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo: 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 30 tháng đến 36 tháng.

1.2 Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS:

- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 03 (ba) bệ pháo có kích thước là 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được dán giấy có nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống trụ tròn dài đường kính 2,3cm, dài 10cm.

- Đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 72K1-048.38, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng đen và tịch thu 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, màu xám.

2. Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến gì về phần luận tội của Kiểm sát viên.

3. Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo khai toàn bộ hành vi buôn bán hàng cấm của bản thân giống như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố bị cáo. Vào khoảng 13 giờ 15 ngày 23/11/2022 tại khu vực ấp H, xã P, huyện L, tỉnh BRVT, bị cáo Cao Lê D bị phát hiện bắt quả tang đã có hành vi tàng trữ 05 bệ pháo, qua giám định kết luận là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sang màu với khối lượng 8,6 kg, nhằm mục đích bán cho một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch để kiếm lời.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm Tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo là công dân đã trưởng thành, nên bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc mua bán trái phép hàng pháo nổ, là mặt hàng nhà nước không cho phép buôn bán, vì có thể gây những hậu quả đáng tiếc cho những người mua về sử dụng. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Do đó, phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu; bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi mẹ bị bệnh và em đi học, nên cần áp dụng tình tiết này để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống, mà tạo điều kiện để bị cáo hưởng án treo.

. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bệ pháo có kích thước là 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được dán giấy có nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống trụ tròn dài đường kính 2,3cm, dài 10cm, do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 72K1-048.38, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, màu xám là vật chứng sử dụng vào việc phạm tội.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Lê D phạm Tội “ Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Cao Lê D (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 ( hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 87 của luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người thực hiện án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bệ pháo có kích thước là 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được dán giấy có nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống trụ tròn dài đường kính 2,3cm, dài 10cm, do không còn giá trị sử dụng. Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Ban chỉ huy quân sự huyện L theo Biên bản giao nhận tang vật ngày 28 tháng 12 năm 2022.

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 72K1-048.38, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, màu xám. Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 86/BB-THA ngày 31/3/2023.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ