- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân T - tổ chức đánh bạc và đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HS-PT Ngày: 01 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thiện Vinh.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thanh.
Bà Ninh Thị Kiều Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Xuân T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
Bị cáo có kháng cáo: PHẠM XUÂN T, sinh năm: 1973 tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm T1 (Chết) và bà Lê Thị L (Chết); có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 11/02/2023 đến ngày 17/02/2023. Hiện đang tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 11 bị cáo không kháng cáo; không bị kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ánh N cùng chồng là Phạm Xuân T trú tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Khoảng đầu tháng 02 năm 2023 (sau Tết Nguyên đán), N và T sử dụng chỗ ở của mình và chuẩn bị công cụ gồm bài Tây, mền vải, tô nhựa, đĩa sứ để tổ chức đánh bạc nhằm thu tiền xâu.
Tối ngày 10/02/2023, Trịnh Trung T2, Mai Văn C, Lê Thành M, Thái Bá H1, Nguyễn Thế A, Nguyễn Thị Ơ, Diệp Thị H2, Lê Thị Thanh X, Phạm Kim H3, Nguyễn Đức T3 đến nhà N để đánh bạc được thắng thua bằng tiền. Nguyệt chuẩn bị công cụ để các con bạc đánh bạc được thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cào tố và bài xì lát. Thiều giúp N cảnh giới Công an, chuẩn bị nước uống cho các con bạc đồng thời trực tiếp tham gia đánh bài xì lát. Cụ thể như sau:
Chiếu bạc thứ nhất: Trịnh Trung T2, Mai Văn C, Lê Thành M, Thái Bá H1, Nguyễn Thế A cùng đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào tố được thua bằng tiền tại phòng khách. Hình thức đánh bạc như sau: Các con bạc sử dụng bài Tây chia cho 05 người, mỗi người 03 lá, số tiền tẩy phải bỏ ra ban đầu là 10.000 đồng/người cho mỗi ván, sau đó tùy theo điểm bài của mỗi người (cao hay thấp) có thể kết thúc ván bài hoặc bỏ tiền thêm để tố (có thể theo hay bỏ tùy người chơi). Nếu người theo bài thì bỏ tiền ra tố với nhau từ 10.000 - 50.000 đồng/người/lần, nhưng tổng số tiền tố cao nhất là 200.000 đồng/ván, người nào thắng thì bỏ ra 10.000 đồng tiền xâu cho chủ nhà. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện T bắt quả tang Mai Văn C, Lê Thành M, Trịnh Trung T2 về hành vi đánh bạc, tạm giữ trên chiếu bạc số tiền 8.530.000 đồng, Mai Văn C: 3.200.000 đồng; Trịnh Trung T2: 1.000.000 đồng, Lê Thành M ném số tiền 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc vào phòng ngủ được Diệp Thị Hà nhặt được. Riêng Thái Bá H1, Nguyễn Thế A bỏ chạy khỏi hiện trường.
Kết quả điều tra xác định số tiền dùng đánh bạc theo quy định pháp luật đối với Trịnh Trung T2, Mai Văn C, Lê Thành M, Thái Bá H1, Nguyễn Thế A là 17.730.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm ba mươi ngàn đồng), trong đó: Tiền trên chiếu bạc: 8.530.000 đồng; tiền thu giữ được trong người các con bạc dùng đánh bạc 4.200.000 đồng (Mai Văn C: 3.200.000 đồng; Trịnh Trung T2: 1.000.000 đồng), tiền thu giữ của Diệp Thị H2 (là số tiền Lê Thành M dùng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang đã ném vào phòng ngủ): 5.000.000 đồng.
Chiếu bạc thứ hai: Các con bạc đánh bạc dưới hình thức bài xì lát, do Nguyễn Đức T3 làm cái, Lê Thị Thanh X, Diệp Thị H2, Phạm Kim H3, Nguyễn Thị Ơ đặt cược, Phạm Xuân T đặt ké cửa của Lê Thị Thanh X. Hình thức đánh bạc như sau: T3 dùng bộ bài Tây 52 lá chia cho mỗi cửa (mỗi người chơi chính) 02 lá, số bài còn lại để trên 01 cái đĩa ở giữa, sau đó người chơi dựa vào số điểm của mình để bốc tiếp bài (tổng cộng không quá 05 lá bài), nếu tổng số điểm quá 21 gọi là “quắc”, nếu dưới 16 điểm không bốc tiếp thì thua. Sau đó, T3 sẽ mở bài, người chơi thắng khi có điểm cao hơn nhà cái hoặc 05 lá mà điểm thấp hơn, nếu điểm thấp hơn hoặc “quắc” thì thua, nếu điểm số bằng nhau hoặc cùng “quắc” thì hòa tiền, số tiền đặt cược mỗi ván từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện T bắt quả tang Lê Thị Thanh X, Diệp Thị H2, Phạm Kim H3, Nguyễn Thị Ơ, Phạm Xuân T về hành vi đánh bạc, riêng Nguyễn Đức T3 bỏ chạy.
Kết quả điều tra xác định số tiền dùng đánh bạc theo quy định pháp luật đối với Nguyễn Đức T3, Lê Thị Thanh X, Diệp Thi H4, Phạm Kim H3, Nguyễn Thị Ơ, Phạm Xuân T là 6.840.000 đồng (Sáu triệu tám trăm bốn mươi ngàn đồng), trong đó: Tiền trên chiếu bạc: 980.000 đồng, tiền thu giữ được trong người các con bạc sẽ được dùng đánh bạc 5.860.000 đồng (Diệp Thị H2: 2.910.000 đồng; Lê Thị Thanh X: 800.000 đồng; Nguyễn Thị Ơ: 1.500.000 đồng; Phạm Kim H3: 650.000 đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án số 01/2023/QĐ-TA ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 06 (Sáu) tháng tù (nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2023 đến ngày 17/02/2023), thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 11 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/7/2023, bị cáo Phạm Xuân T kháng cáo xin được giảm nhẹ mức hình phạt cho được hưởng án treo. Kèm theo đơn kháng cáo, bị cáo T nộp thêm 01 giấy chứng nhận gia đình vẻ vang của hộ ông Phạm T4 và bà Võ Thị Q; 01 giấy chứng nhận tổ quốc ghi công của liệt sỹ Phạm H5; 01 huân chương chiến sỹ giải phóng của liệt sỹ Phạm Hiếu .
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Xuân T5 là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- Về nội dung: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Xuân T mức án 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và phạt tiền 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có cung cấp tài liệu thể hiện gia đình là người có công với cách mạng tuy nhiên tình tiết giảm nhẹ này không ảnh hưởng đến việc lượng hình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Phạm Xuân T kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Xuân T5 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Ngày 10/02/2023, bị cáo cùng với vợ là Nguyễn Thị Ánh N đã cố ý dùng nhà ở của mình ở thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận để tổ chức cho 11 người đánh bạc trái phép trên 02 chiếu bạc trong cùng một lúc, với tổng số tiền dùng đánh bạc là 24.570.000đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng). Cụ thể 02 chiếu bạc:
Chiếu bạc thứ nhất, gồm: Các bị cáo Nguyễn Thế A (A), Lê Thành M (L), Mai Văn C (T), Trịnh Trung T2 (Bé), Thái Bá H1 (C1) đã cố ý cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài cào tố được thắng thua bằng tiền. Số tiền dùng đánh bạc là 17.730.000đ (Mười bảy triệu bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Chiếu bạc thứ hai, gồm: Các bị cáo Nguyễn Đức T3, Diệp Thị H2, Lê Thị Thanh X (C), Phạm Kim H3 (H6), Nguyễn Thị Ơ, Phạm Xuân T đã cố ý cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài xì lát. Số tiền dùng đánh bạc là 6.840.000đ (Sáu triệu tám trăm bốn mươi ngàn đồng).
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho được hưởng án treo của bị cáo Phạm Xuân T: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo bị xét xử và kết án về hai tội, trong đó tội “Tổ chức đánh bạc” thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và các Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm một số tài liệu thể hiện có người thân là người có công với cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên tình tiết này không ảnh hưởng đến việc lượng hình. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Xét bị cáo là người dùng địa điểm của mình và chuẩn bị các công cụ đứng ra tổ chức để các con bạc tham gia đánh bạc, đồng thời cũng là người tham gia đánh bạc. Bị cáo bị xét xử về hai tội, trong đó tội “Tổ chức đánh bạc” thuộc trường hợp nghiêm trọng, nhưng cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, phạt 20.000.000đ về tội “Đánh bạc” là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra, việc áp dụng hình phạt trên đối với bị cáo dẫn đến việc không thể tổng hợp hình phạt của nhiều tội được quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Xuân T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.;
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 06 (Sáu) tháng tù (nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2023 đến ngày 17/02/2023), thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 01 - 11 - 2023./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND, TAND huyện T; - Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Bị cáo; - PV 27 Công an tỉnh Ninh Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Phòng KTNV- THA; HCTP; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiện Vinh |