- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2017/HSST Ngày 19-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn M Hà. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Nghị 2. Bà Phạm Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 19-9-2017, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2017/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn G, sinh năm 1976. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ 5, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; số CMND: 151390xxx; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị R; vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; bị cáo có 02 con, con lớn sinh lớn năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 88/HSPT ngày 28-12-1999, bị TAND tỉnh T xử phạt 27 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST ngày 08-6-2004, bị TAND huyện Q, tỉnh Thái Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2007/HSST ngày 27-11-2007, bị TAND huyện Q xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-6-2013. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2017/HSST ngày 04-8-2017 của TAND huyện Q, tỉnh Thái Bình đã xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án đã có hiệu lực pháp luật thi hành, hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, thời hạn tù tính từ ngày 10-4-2017, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Trần Đắc T, sinh năm 1978 Địa chỉ: thôn Kh, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 10-01-2017, Nguyễn Văn G điều khiển xe mô tô kiểu xe Wave màu đen - đỏ, biển kiểm soát 17K6 - 1264 của G đến chở Đặng Văn M, sinh năm 1992, trú tại thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình đi trên đường xem ai có sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi đi G mang theo 01 kìm cắt sắt bằng kim loại, 01 chiếc vam phá khóa bằng kim loại hình chữ “T”, 01 tô vít dài khoảng 15 cm. Đi được một đoạn thì G dừng xe lại cho M điều khiển xe, G ngồi phía sau cả hai tiếp tục đi. Đến khoảng 01 giờ ngày 11-01-2017, M và G phát hiện trong sân nhà anh Trần Đắc T có chiếc e mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen, BKS 17B4 – 25069. M điều khiển xe đi qua cổng nhà anh T khoảng 10 mét thì dừng lại và đứng ở ngoài cảnh giới, G dùng kìm cắt khóa cổng, mở cổng cổng đi vào trong sân dắt chiếc xe mô tô trên của anh T ra cổng chỗ M đang đứng đợi thì dừng lại. G dùng vam phá khóa cho vào ổ khóa điện của xe và vặn để phá ổ khóa nhưng vam bị cong xoắn nên không phá được. Sau đó G ngồi lên chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được để M điều khiển xe của G đẩy đi. Khi đến đoạn đường vắng G và M dừng xe lại, G dùng tô vít tháo yếm, mặt nạ và cắt dây ổ khóa điện, khởi động, nổ máy và điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được về cất dấu tại nhà G. Đến khoảng 21 giờ ngày 13-01-2017, G điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp của anh T chở M đi trên đường mục đích xem có ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp, đi đến khu vực xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thì bị lực lượng Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình kiểm tra giấy tờ phát hiện và bắt giữ được M, còn G đã bỏ chạy. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 19-5-2917 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã xử phạt M 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen, BKS 17B4 – 25069 đã được Cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Đắc T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 20a/KLGĐ ngày 18-01-2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Hưng Hà kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, đen BKS: 17B4 - 250.69 đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 13.000.000 đồng
Tại phiên toà, bị cáo G khai nhận đã cùng M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, đen BKS: 17B4 - 250.69 của anh Trần Đắc T như nội dung đã nêu ở trên
Bản cáo trạng số 68/KSĐT ngày 03-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn G ra trước TAND huyện Hưng Hà để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo G phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của BLHS, xử phạt bị cáo G từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 51 của BLHS, tổng hợp với hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo theo bản án hình sự sơ thẩm số 61/2017/HSST ngày 04-8-2017 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 19-5-2917 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Người bị hại là anh Trần Đắc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy anh T đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của anh T không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[4] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo G tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Lời khai của người bị hại là anh Trần Đắc T (bút lục từ 61 đến 63); lời khai của Đặng Văn M (bút lục số 64 đến 74); Biên bản quản lý đồ vật, tài liệu ngày 14-01-2017 của Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (bút lục số 43); Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 20a/KLGĐ ngày 18-01-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (bút lục số 51) và phù hợp với Sơ đồ hiện trường và Biên bản xác định hiện trường vụ án do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 09 giờ ngày 20-2-2017 tại nơi xảy ra vụ án (bút lục số 41 đến 42).
[5] Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 01 giờ ngày 11-01-2017, tại gia đình anh Trần Đắc T ở thôn Kh, xã Du, huyện H, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn G đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha màu xanh, đen BKS: 17B4 - 250.69 của anh Trần Đắc T, tại thời điểm bị xâm hại chiếc xe có giá trị thành tiền là 13.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo G thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội có chủ định, đã chuẩn bị trước công cụ, phương tiện phạm tội, là người trực tiếp cắt khóa cổng vào lấy tài sản. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án về các tội danh khác nhau mặc dù đều đã được xóa án tích hoặc không bị coi là có tiền án nhưng vẫn thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên tại phiên toà cũng như tại giai đoạn điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thời gian 02 năm tham gia Quân dội nhân dân Việt Nam nên Hội đồng xét xử cũng xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình và tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo bản án hình sự sơ thẩm số 61/2016/HSST ngày 04-8-2017 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 19-5-2917 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (bản án đã có hiệu lực pháp luật thi hành), theo đó chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen, BKS 17B4 – 25069 đã được Cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Đắc T, anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn G theo bản án hình sự sơ thẩm số 61/2017/HSST ngày 04-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10-4-2017.
2. Bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại anh Trần Đắc T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - Lưu hồ sơ vụ án./. |