- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HSST Ngày: 15/9/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;
Ông Phạm Thành Đô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2022/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2022/ QĐXXST – HS ngày 05 tháng 9 năm 2022, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, tại tỉnh Thanh Hóa.
Chứng minh nhân dân số: 174144xxx cấp ngày xx/02/2015; Nơi cấp: Công an tỉnh Thanh Hóa.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn A, xã Đi, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Vũ Thị H; bị cáo có vợ và 03 người con; lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt)
- Bị hại: Nguyễn Tấn C, sinh năm 1980, (có mặt).
Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người làm chứng: Điểu B, sinh năm 1975, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã Đi, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 13/2/2022, Nguyễn Văn T đi uống bia, rượu về nhà tại Thôn A, xã Đi, huyện B, tỉnh Bình Phước. thì biết tin anh rể là ông Điểu B bị xe tải lấn đường khiến ông B bị ngã. Do đó, ông B đợi trước nhà nếu thấy xe tải đã ép đường đi qua thì chặn lại. Nghe vậy, Nguyễn Văn T về nhà, lấy ra 01 (một) khẩu súng hơi màu đỏ đen, báng súng bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại và 02 (hai) viên đạn chì rồi đem súng và đạn chì đến nhà ông B, núp vào gốc cây đợi ông B xem có chặn xe thì sẽ bắn.
Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, anh Nguyễn Tấn C điều khiển xe ô tô tải HINO, biển số 93H - 005.XX đi từ hướng ngã 3 xã Đồng Nai đến khu vực sóc Bon Đăng thuộc thôn 4, xã Đồng Nai để giao hàng hóa. Khi anh C vừa dừng xe tại cửa hàng tạp hóa “Tín Thuận” thì ông Điểu B phát hiện có xe ô tô đi đến nên ông B chạy ra chặn trước đầu xe ô tô. Lúc này, anh C thấy người lạ nên anh C không xuống xe mà ngồi tại cabin để nói chuyện với ông B. Trong lúc anh C và B đang nói chuyện thì Nguyễn Văn T dùng súng bắn 01 viên đạn chì trúng vào kính chắn gió phía trước xe ô tô tải của anh C. Thấy kính chắn gió bị vỡ, anh C mở cửa xe bên trái để xuống. Trong lúc anh C chuẩn bị xuống xe thì T tiếp tục dùng súng bắn 01 viên đạn nữa trúng vào cánh cửa xe bên trái. Khi anh C bước xuống xe thì ông B nói: “Xe này không phải”. Trong lúc ông B và anh C đang nói chuyện thì Nguyễn Văn T đi bộ đến chỗ anh C đang đứng rồi xông đến dùng tay đấm liên tiếp vào mặt, đầu của anh C. Sau đó, khi mọi người can ngăn nên T bỏ đi về.
Ngày 14/02/2022, Công an xã Đồng Nai tiến hành lập Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: 01 khẩu súng có màu đỏ đen, nòng súng bằng kim loại, chiều dài 116cm, ốp làm bằng gỗ và niêm phong theo quy định. Sau đó Cơ quan CSĐT đã trưng C Phân viện khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh giám định khẩu súng trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 10/KL – ĐG ngày 01/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng, xác định giá trị của các tài sản tại thời điểm xảy ra tội phạm:
+ 01 (một) tấm kính chắn gió xe ô tô tải hiệu HINO, loại xe XZU720L, đời xe 2020, biển kiểm soát: 93H-005.XX, giá thay thế, sửa chữa: 20.120.000 đồng (hai mươi triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng).
+ 01 (một) cánh cửa xe bên trái ô tô tải hiệu HINO, loại xe XZU720L, đời xe 2020, bị lõm một vết bên ngoài, giá sửa chữa: 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại tại thời điểm xảy ra tội phạm là: 21.120.000 đồng (hai mươi mốt triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định số: 1342/KL-KTHS ngày 16/03/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh xác định: Khẩu súng dài 116cm, báng súng bằng gỗ gửi giám định là súng hơi hiệu: Slavia 631 Model 77, số súng: 259803. Súng bắn đạn mũi dù đường kính 4,5mm vào cơ thể người có khả năng gây sát thương, phá huỷ kết cấu vật chất. Khẩu súng nêu trên thuộc danh mục súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
- Về vật chứng vụ án:
+ 01 (một) khẩu súng dài 116cm, báng súng bằng gỗ, hiệu: Slavia 631 Model 77, số súng: 259803; Cơ quan CSĐT - Công an huyện Bù Đăng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ công tác truy tố, xét xử.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị can Nguyễn Văn T đã bồi thường số tiền 23.000.000 đồng theo yêu cầu của người bị hại,
Tại Cáo trạng số: 73/CT –VKS - BĐ ngày 31/8/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về Tội cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Người bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi người bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 13/2/2022, anh Nguyễn Tấn C điều khiển xe ô tô tải HINO, biển số 93H - 005.XX đến khu vực sóc Bon Đăng thuộc thôn 4, xã Đồng Nai để giao hàng hóa thì bị Nguyễn Văn T núp ở bụi cây trong vườn (cách khoảng 42- 43m) dùng súng hơi, bắn 02 viên đạn chì vào kính chắn gió và cửa xe bên trái của xe gây thiệt hại 21.120.000 đồng (hai mươi mốt triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng).
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là cơ bản phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra và lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Mặc dù bị cáo dùng súng hơi, loại súng săn bắn vào vị trí vị trí bên trái ca bin (ví trí của lái xe) khi bị hại đang ngồi trên xe. Tuy nhiên, do khoảng cách xa 42,1m, xe đã dừng, viên đạn trúng vào góc bên trên kính chắn gió và không xuyên qua kính chắn gió của xe. Nên hành vi của bị cáo không có dấu hiệu của tội giết người.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào phạm Tội cố ý làm hư hỏng tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm,
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng súng hơi loại súng săn bắn vào vị trí bên trái ca bin (ví trí của lái xe) khi ô tô khi có anh Nguyễn Tấn C đang ngồi ở vị trí lái trên xe làm vỡ kính chắn gió phía trước xe và tiếp tục bắn vào cửa bên trái của xe là vi phạm pháp luật có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác. Nhưng do bản tính coi thường pháp luật bị cáo đã có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo có con còn nhỏ (sinh năm 2022); hiện bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp với mục đích của hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo có con còn nhỏ, nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Tấn C đã nhận lại số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) khẩu súng dài 116cm, báng súng bằng gỗ, hiệu: Slavia 631 Model 77, số súng: 259803.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với ông Điểu B là người đã chặn xe ô tô tải biển số 93H - 005.XX của anh Nguyễn Tấn C. Quá trình điều tra xác định, ông Điểu B không bàn bạc, không thoả thuận hay ép buộc, xúi giục bị can T làm hư hỏng tài sản của anh C. Ông B cũng không làm hư hỏng hay huỷ hoại bất kì tài sản nào của anh C. Do đó, hành vi của ông Điểu B cũng không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm tù (một năm tù), nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm (hai năm) kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T về cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) khẩu súng dài 116cm, báng súng bằng gỗ, hiệu: Slavia 631 Model 77, số súng: 259803.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0009951 ngày 17/8/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước. - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - CCTHADS huyện Bù Đăng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |