- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Giao các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th và Trần Văn T (tức Trần Doãn Th) cho Ủy Bn nhân dân xã Gia Đức, huyện TN, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2020/HS-PT Ngày 12-10-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đức Lập
Các Thẩm phán: Ông Lương Ngọc Dũng
Ông Lê Anh Sơn
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Thao – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm C khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2020/TLPT-HS ngày 10 tháng 8 năm 2020 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2020/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng.
- Các bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 1994, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 06, xã G, huyện TN, thành phố HP; nghề nghiệp: C nhân; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn B (đã chết) và bà Lê Thị Th; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Nguyễn Văn T, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1994, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 05, xã G, huyện TN, thành phố HP; nghề nghiệp: C nhân; trình độ văn hóa:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Lại Thị Th; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Nguyễn Bá Th, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1996, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 05, xã G, huyện TN, thành phố HP; nghề nghiệp: C nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá Nh và bà Đỗ Thị Th; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Trần Văn T (tên gọi khác Trần Doãn Th), sinh ngày 09 tháng 11 năm 1996, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 06, xã G, huyện TN, thành phố HP; nghề nghiệp: C nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Doãn M và bà Lê Thị Th; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Anh Bùi Tuấn T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn 08, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng (đã chết ngày 16/11/2019).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn Th, sinh năm 1972 và bà Lê Thị Ng, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn 08, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng và anh Bùi Tuấn Thanh, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 08, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 16/12/2018, Bùi Tuấn T đang ngồi uống nước với các bạn tại quán nước thuộc địa bàn xã TS, huyện TN, thành phố Hải Phòng thì thấy Đỗ Hoàng A, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn 04, xã G, huyện TN, thành phố Hải Phòng đi xe mô tô qua. Do nghi ngờ Đỗ Hoàng A gây sự với nhóm của mình nên T rủ các bạn gồm Hoàng Văn H, Nguyễn Thịnh V và Bùi Văn C đều ở xã C, huyện TN, thành phố Hải Phòng cùng đuổi theo xe của Đỗ Hoàng A. Lúc này, Đỗ Hoàng A Đ khiển xe mô tô Exciter, biển số 15G1-516.27 phía sau chở Đỗ Văn B đi đám cưới. Cả nhóm T đuổi theo nhóm Hoàng A đến khu vực xã Thiên Hương thì T và V quay về nhà T lấy hung khí gồm 01 con dao (lưỡi bằng kim loại, vỏ bằng gỗ, dài khoản 30cm) và 02 ống tuýp sắt (01 ống tuýp sắt dài khoản 50cm; 01 ống cán dài khoảng 50cm, một đầu gắn lưỡi dao dài khoảng 30cm) để đuổi theo đánh Hoàng A. Trong khi T về lấy hung khí thì Hùng và C vẫn đuổi theo nhóm Hoàng A đến khu vực xã M Đ thì không đuổi kịp. Sau đó, T và V đi đến chỗ H và C. Cả nhóm đi tìm nhóm Hoàng A, khi đến khu vực thôn 1, xã MĐ, huyện TM, thành phố Hải Phòng thì gặp được nhóm Hoàng A. Cả nhóm T xông vào đuổi đánh nhóm Hoàng A thì được mọi người căn ngăn nên không đánh nhau nữa. Nhóm của T tiếp tục đi đến khu vực ngã tư thuộc thôn 06, xã M Đ đợi, đón đường nhóm của Hoàng A đi qua để đánh. Còn nhóm của Hoàng A đi đến cửa hàng tạp hóa ven đường thì Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T và Đỗ Văn B, Nguyễn Bá Ph, Nguyễn Thành L cùng vào mua khoảng 10 chiếc gậy gỗ (loại cán xẻng, dài khoảng 01m-1,2m, đường kính 04cm). Ph là người trả tiền mua gậy nhưng không nhớ số lượng chính xác. Sau đó, hai nhóm gặp nhau tại khu vực thôn 06, xã M Đ. Tại đây, Hoàng A bị đánh nên bỏ chạy còn lại gồm Đ, Tr, Ph, L, B mỗi người cầm một gậy gỗ đuổi đánh nhóm của T. Bị đuổi đánh, nhóm T bỏ chạy vứt lại chiếc xe mô tô đỏ đen, hãng Honda, nhãn hiệu Air Blade, biển số 15G1-481.18. Thấy vậy, Đ và Tr dùng gậy gỗ đập phá xe của T, còn Ph, B, L đuổi theo nhóm T nhưng không kịp. Lúc này, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T đứng gần đó thấy Đ, Tr đập phá xe của T nên đã chạy sang dùng gạch, đá ném vào xe của T, Đ vừa dùng gậy gỗ, vừa lấy đá ném vào xe của T. Sau đó nhóm của Đ bỏ đi, một lúc sau nhóm của T quay lại thấy xe bị phá hư hỏng nên đã đến Công an trình báo.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe mô tô biển số 15G1-481.18 hãng Honda, nhãn hiệu Air Blade; 06 đoạn gậy gỗ hình trụ, đường kính 4cm (gồm 01 đoạn dài 125cm, 01 đoạn dài 54cm; 01 đoạn dài 49cm; 01 đoạn dài 98cm; 01 đoạn dài 56cm; 01 đoạn dài 80cm); 01 vỏ bao đựng dao bằng gỗ có chữ An Tiêm dài 35cm, rộng 8cm; 03 khối bê tông có các kích thước (22x15x10)cm, (20x20x16)cm; 01 cục đá màu xanh, kích thường (35x20x12) cm.
Về trị giá thiệt hại: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15 ngày 27/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TN kết luận: Tổng giá trị tiền thay mới phụ tùng và tiền C sữa chữa xe mô tô biển số 15G1-481.18 hãng Honda, nhãn hiệu Air Blade là 8.815.0000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn Đ tra các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bá Th, Nguyễn Văn T và Trần Văn T (tức Trần Doãn Th) đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bên bị hại Bùi Tuấn T là chủ phương tiện số tiền 5.000.000 đồng. Anh Bùi Tuấn T không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại Bản án sơ thẩm số 54/2020/HS-ST ngày 25/6/2020, Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào khoản 1 Đ 178; Điểm i, b, s Khoản 1, Khoản 2 Đ 51; Đ 17; Đ 58; Đ 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Bá Th 09 (Chín) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Trần Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo Bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/7/2020 các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt các bị cáo: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù; Nguyễn Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù; Nguyễn Bá Th 09 (Chín) tháng tù; Trần Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Đ 178 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm các bị cáo cung cấp các tài liệu chứng cứ mới thể hiện các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiê ̣n nay có công ăn viê ̣c làm ổn đi ̣nh có xác nhận của chính quyền địa phương về việc các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Chính quyền địa phương có văn bản đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
Xét thấy, các bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp it nghiêm tro ̣ng , sau khi pha ̣m tô ̣i các bi ̣ cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối
́ cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Đ 51 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Đ 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Đ 355, điểm e khoản 1 Điếu 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T, sửa bản án sơ thẩm cho các bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Việc các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo là không trái quy định của pháp luật và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T đều khai nhận hành vi cùng cố ý làm hư hỏng tài sản là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15G1-481.18 của anh Bùi Tuấn T vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 16/12/2018 tại khu vực xã Mỹ Đồng, huyện TN, thành phố Hải Phòng như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản hiện trường, vật chứng thu giữ được tại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15 ngày 27/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TN kết luận, xác định tri giá thiệt hại: Tổng giá trị tiền thay mới phụ tùng và tiền công sữa chữa xe mô tô biển số 15G1-481.18 hãng Honda, nhãn hiệu Air Blade là 8.815.0000 đồng.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th và Trần Văn T về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Đ 178 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2020/HS-ST ngày 25/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, xử phạt các bị cáo: Nguyễn Văn T 12 tháng tù, Nguyễn Văn Đ 12 tháng tù, Nguyễn Bá Th 09 tháng tù và Trần Văn T 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Đ 178 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định pháp luật và đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, để xẩy ra hành vi phạm tội của các bị cáo cũng có phần lỗi của phía bị hại; các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Đ 51 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nơi cư trú rõ ràng; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú có văn bản đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng chính sách khoan hồng cho các bị cáo được hưởng án treo, chính quyền địa phương cam kết giám sát, quản lý giáo dục các bị cáo. Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T, sửa án sơ thẩm cho các bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T (tức Trần Doãn Th), sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Đ 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Thờ i gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Đ 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Thờ i gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Đ 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Bá Th 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Thờ i gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Đ 58; Đ 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn T (tức Trần Doãn Th) 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Thờ i gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th và Trần Văn T (tức Trần Doãn Th) cho Ủy Bn nhân dân xã Gia Đức, huyện TN, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2019.
Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th, Trần Văn T (tức Trần Doãn Th).
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá Th và Trần Văn T (tức Trần Doãn Th) Không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án số 54/2020/HS-ST ngày 25/6/2020 của Toà án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND huyện TN; - PV06 C an TP Hải Phòng; - CQCSĐT-CA huyện TN; - Chi Cục THADS huyện TN; - TAND huyện TN; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, HCTP. THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lương Ngọc Dũng - Lê Anh Sơn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Lập THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Lập |