vanban.org

Bản án 72/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 23/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 hai năm 06 sáu tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày 23/5/2024. Biện pháp t pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Hoàng - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST
Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;

2. Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Th

T a án nh n d n huyện Bến Cầu, tỉnh T y Ninh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n B n Cầu, t nh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở T a án nh n d n huyện Bến Cầu, xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số: 65/2024/TLST-HS ngày 30-7-2024 đối với bị cáo:

Lê Văn H; Sinh ngày 21/6/1990; Tại: Tỉnh T y Ninh; Nơi đăng nh n hẩu th ờng trú và nơi c trú: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh T y Ninh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 10/12; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn X và bà Trang Thị K; Vợ Trần Thị Ngọc B đã ly hôn ; Con có 01 ng ời sinh năm 2014; Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 17/10/2016 và ngày 17/9/2021 bị T a án nh n d n huyện Bến Cầu, tỉnh T y Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử l hành chính đ a vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Ngày 27/5/2010 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển hàng hóa nhập lậu”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/6/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trang Thị K, sinh năm 1952. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh T y Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên hoảng 17 giờ ngày 23/5/2024, Lê Văn H mang theo trong ng ời 01 đoạn ống thủy tinh tẩu và 01 đoạn ống hút nhựa, đi bộ từ nhà ra đ ờng nhựa thuê xe ôm của ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) chở đến hu vực đèn tín hiệu giao thông ngã t xã A, huyện B, tỉnh T y Ninh, H xuống xe đi bộ vào đ ờng hẽm nhỏ gặp ng ời đàn ông tên T (không rõ lai lịch) hỏi mua 600.000 đồng chất ma túy rồi H cất giấu ma túy trong ng ời và tiếp tục thuê một ng ời đàn ông chạy xe ôm hác hông rõ lai lịch chở đến Nhà nghỉ M thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh T y Ninh, H vào thuê ph ng số 01 rồi điện thoại rủ Võ Mộng T1, sinh năm 1997, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh T y Ninh đến để tr chuyện. Sau đó, H lấy ra 01 đoạn ống thủy tinh tẩu và 01 đoạn ống hút nhựa do H chuẩn bị sẵn gắn vào chai n ớc suối tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy hoàn chỉnh, H lấy bịch ma túy ra đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, T1 đến ph ng số 01 Nhà nghỉ Mai P gặp H. Tại đ y, H rủ T1 sử dụng ma túy, thì T1 đồng . H dùng bật lửa đun nóng ma túy lên rồi đ a cho T1 hít 01 hơi và H hít 01 hơi. Đến hoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã L iểm tra hành hành chính phát hiện vi phạm nên tiến hành lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, tạm giữ ng ời và vật chứng có liên quan để làm rõ.

Trong ngày 23/5/2024, tiến hành iểm tra nồng độ chất ma túy trong cơ thể đối với Lê Văn H, Võ Mộng T1 cho ết quả d ơng tính với chất ma túy loại Methamphetamine).

Tại Kết luận giám định số: 1068/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, ết luận: Mẫu chất tinh thể rắn í hiệu M bên trong 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tr n gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, hối l ợng 0,0650 gam, đã sử dụng hết trong công tác giám định.

* Kết quả thu giữ và xử l vật chứng:

- 01 một đoạn ống thủy tinh trong suốt, có một đầu là ụ tr n, bên trong ụ tr n có chứa chất tinh thể rắng nghi là ma túy đá ;

- 01 một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đ ợc làm bằng chai n ớc suối nhựa hiệu AQUAFINA, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, trên nắp đậy có gắn một đoạn ống hút nhựa;

- 02 hai bật lửa;

- 01 một điện thoại di động hiệu S J7 Prime, số I 1: 355228086982038, số Imei 2:355229086982036 đã qua sử dụng .

Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án d n sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Kê biên tài sản: Lê Văn H hông có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh T y Ninh hông ê biên tài sản.

- Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Thị K trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo Lê Văn H, bà có cho bị cáo Hoàng m điện thoại di động hiệu S J7 Prime để chơi Game. Việc H gọi điện thoại, nhắn tin để rủ Võ Mộng T1 sử dụng ma túy bà hông biết nên bà yêu cầu đ ợc nhận lại điện thoại nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện iểm sát nh n d n huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại hoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện iểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ hoản 1 Điều 255; điểm s hoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo hông có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và đề nghị xử l vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo H thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, hông có iến tranh luận, bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình, làm ng ời có ích cho xã hội và hứa sẽ hông tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Do có nhu cầu sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện nên vào hoảng 18 giờ 10 phút ngày 23/5/2024, tại ph ng số 01 Nhà nghỉ M thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh T y Ninh, bị cáo Lê Văn H có hành vi tổ chức cho Võ Mộng T1 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến chính sách quản l của Nhà N về các chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời hai của bị cáo tại phiên t a phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên t a, phù hợp với lời trình bày của những ng ời tham gia tố tụng hác. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đ ợc quy định tại hoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo là ng ời đã thành niên, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và biết hậu quả của việc nghiện ma túy là nguyên nh n trực tiếp dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm hác, nh ng bị cáo cố thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt t ơng xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe bị cáo và ph ng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nh n th n đối với bị cáo nh sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau hi phạm tội, bị cáo đã thành hẩn hai nhận, ăn năn hối cải; bị cáo đ ợc Chủ tịch ủy ban nh n d n huyện B tặng Giấy hen đã có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn d n bảo vệ an ninh tổ quốc và có cha ruột tham gia d n công hỏa tuyến nên bị cáo đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nh n th n: Bị cáo H có nhân th n xấu, bị cáo là ng ời nghiện ma túy và bị áp dụng biện pháp xử l hành chính đ a vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 lần, tuy đã chấp hành xong nh ng vẫn hông từ bỏ mà tiếp tục sử dụng ma túy và tổ chức cho ng ời hác sử dụng và ngày 27/5/2010 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển hàng hóa nhập lậu”. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công d n tốt biết chấp hành pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy, qua ết quả xác minh bị cáo hông có tài sản nên hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử l vật chứng:

Đối với 01 một gói niêm phong vụ số: 1068/KL-KTHS là mẫu vật hoàn lại sau giám định ; 01 một bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy, đ ợc làm bằng chai n ớc suối nhựa hiệu AQUAFINA, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, trên nắp có gắn một đoạn ống hút nhựa; 02 hai bật lửa là vật cấm tàng trữ và hông c n giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 một điện thoại di động hiệu S J7 Prime, số I 1: 355228086982038, số Imei 2:355229086982036 đã qua sử dụng . Xét thấy là của bà Trang Thị K cho bị cáo Hoàng m ợn, việc bị cáo liên lạc rủ Võ Mộng T1 sử dụng ma túy bà K hông biết, hông liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bà K.

Đối với ng ời đàn ông tên T bán chất ma túy cho bị cáo H và 02 ng ời đàn ông chạy xe ôm chở bị cáo H đi mua ma túy, do hông rõ nh n th n, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ch a làm việc đ ợc, hi nào làm rõ xử l sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Văn H và chị Võ Mộng T1, Công an huyện B đã xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a là có căn cứ t ơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Do Hội đồng xét xử ết luận bị cáo có tội và bị ết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ hoản 1 Điều 255; điểm s hoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 hai năm 06 sáu tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày 23/5/2024.

2. Biện pháp t pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 một gói niêm phong vụ số: 1068/KL-KTHS là mẫu vật hoàn lại sau giám định ; 01 một bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy, đ ợc làm bằng chai n ớc suối nhựa hiệu AQUAFINA, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, trên nắp có gắn một đoạn ống hút nhựa; 02 hai bật lửa.

2.2. Trả lại cho bà Trang Thị K 01 một điện thoại di động hiệu S J7 Prime, số I 1: 355228086982038, số Imei 2:355229086982036 đã qua sử dụng .

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu).

3. Án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 hai trăm ngàn đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án, bị cáo và đ ơng sự có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên T a án nh n d n tỉnh T y Ninh.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự, thì ng ời đ ợc thi hành án d n sự, ng ời phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

TM HỘI ĐỒNG XÉT X

THẨM

Cỡ chữ