vanban.org

Bản án 72/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B và đình chỉ vụ án.

Án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Văn T không phải chiuh án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm nhục người khác - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B và đình chỉ vụ án.
  • Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-PT
Ngày: 16/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện VKSND tỉnh B tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/5/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/TLPT-HS ngày 18/4/2023 đối với bị cáo Đỗ Văn T do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B.

* Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Văn T, sinh năm 1987. Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà 51, tổ dân phố Sơn Tý, phường Xương Giang, thành phố B, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn Tiến; và bà: Nguyễn Thị Bản; có vợ: Lê Thị Hoa (đã ly hôn) và 01 con lớn sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản”.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 12/12/2022 đến ngày 20/12/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú, hiện tại ngoại (Có mặt).

* Bị hại: Ông Đàm Trung K, sinh năm 1992- Cán bộ đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Việt Yên; Nơi cư trú: Thôn Nội Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh B ( Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Anh D, sinh năm 2002; cư trú tại: Tổ dân phố Sơn Tý, phường Xương Giang, thành phố B, tỉnh B ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự an toàn giao thông của Công an huyện Việt Yên tại một số tuyến đường giao thông trên địa bàn huyện từ ngày 05/12/2022 đến ngày 11/12/2022. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/12/2022, Tổ công tác Cảnh sát giao thông- Công an huyện Việt Yên gồm các cán bộ giao thông: Đàm Trung K, Phạm Hữu Thuận, Vũ Văn Hùng được phân công thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát, kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông tại đoạn đường gom dân sinh thuộc địa phận tổ dân phố My Điền 2, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh B. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, anh Đàm Trung K mặc sắc phục cảnh sát giao thông, sử dụng còi, gậy chỉ huy giao thông có phản quang ra hiệu lệnh yêu cầu Đỗ Văn T, sinh năm 1987, trú tại số nhà 51, tổ dân phố Sơn Tý, phường Xương Giang, thành phố B, tỉnh B đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 98B3- 715.40 đi trên đường gom dân sinh hướng thành phố Bắc Ninh đi thành phố B dừng xe lại để kiểm tra nồng độ cồn, giấy tờ liên quan và phương tiện. Tuy nhiên, T không chấp hành hiệu lệnh, điều khiển xe vượt qua anh Đàm Trung K và ngoảnh đầu lại chửi “Đ.M chúng mày” rồi điều khiển xe đi tiếp khoảng 30 m thì đỗ xe ở rìa đường. Sau đó, T đi bộ quay lại chỗ anh Đàm Trung K. Anh Đàm Trung K giơ tay chào T theo điều lệnh Công an nhân dân, rồi nói “chào thanh niên, cho kiểm tra nồng độ cồn”, thì T chửi “Thổi cái Đ.M mày à”, đồng thời dùng tay đấm, tát liên tiếp nhiều cái vào vùng mặt, đầu anh Đàm Trung K. Thấy vậy, Tổ công tác Cảnh sát giao thông khống chế, bắt giữ T đưa về Công an thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ của T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 98B3- 715.40. Anh Đàm Trung K bị thương, đến Trung tâm y tế huyện Việt Yên điều trị thương tích, đồng thời có đơn đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.

Tại hồ sơ Bệnh án ngoại khoa của Trung tâm y tế huyện Việt Yên thể hiện, anh K điều trị thương tích từ ngày 12/12/2022 đến 16/12/2022 thì ra viện với thương tích: Chấn động não.

Ngày 19/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên ra Quyết định trưng cầu Trung tâm y tế- Bệnh viện đa khoa tỉnh B giám định xác định tỷ lệ phần trăm thương tích của anh Đàm Trung K.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1133/22/TgT ngày 20/12/2022 của Trung Tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận về thương tích của anh Đàm Trung K: Thương tích chạm thương vùng đầu không còn dấu vét + Chấn động não + Điện não đồ: Hiện tại điện não hoạt động dạng chấn động não: 8%. Thương tích do vật tày gây nên.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 31/CT- VKS ngày 26 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm i, k Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HSST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B đã xét xử và Quyết định:

1. Về áp dụng điều luật:

Căn cứ các điểm i, k khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 293, 331; 332, 333; 336, 337, 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 07 (bẩy) tháng tù, thời thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/12/2022 đến ngày 20/12/2022.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

* Sau khi án sơ thẩm xử xong:

- Ngày 28/3/2023 bị cáo kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Mong Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo biết đã có hành vi sai trái, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

- Ngày 05/5/2023 bị hại là anh Đỗ Văn T đã nộp đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị hại là anh Đàm Trung K trình bày: Anh xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự vì nhận thấy bị cáo T đã ăn năn, hối hận về hành vi của bản thân nên anh xin rút yêu cầu vụ án hình sự đối với sự việc bị cáo Đỗ Văn T đánh gây thương tích cho anh và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Việc xin rút yêu cầu khởi tố của anh là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, cưỡng bức.

- Bị cáo T trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Nhưng do bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo, bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo, không xin hưởng án treo nữa, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án.

Đại diện VKSND tỉnh B thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nội dung kháng cáo của bị cáo, ý kiến trình bày của bị hại đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 2, Điều 155 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Bị cáo và bị hại đều đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn T đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

. Xét hành vi của bị cáo Đỗ Văn T: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Qua đó, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11 tháng 12 năm 2022, Tổ công tác Cảnh sát giao thông- Công an huyện Việt Yên gồm các anh Đàm Trung K, Phạm Hữu Thuận và Vũ Văn Hùng được phân công thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát, kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông tại đoạn đường gom dân cư thuộc địa phận tổ dân phố My Điền 2, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên. Trong khi làm nhiệm vụ anh K mặc sắc phục cảnh sát giao thông, sử dụng còi, gậy chỉ huy giao thông có phản quang ra hiệu lệnh yêu cầu Đỗ Văn T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 98B3- 715.40 đi trên đường gom dân sinh hướng thành phố Bắc Ninh đi B dừng xe kiểm tra nồng độ cồn, giấy tờ liên quan và phương tiện. T không chấp hành hiệu lệnh, bị cáo đã chửi anh K đồng thời dùng hai tay đấm, tát liên tiếp nhiều cái vào vùng mặt, đầu anh K. Anh K bị thương được đưa đến Trung tâm y tế huyện Việt Yên điều trị thương tích với kết luận thương tích 8%, đồng thời có đơn đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Đỗ Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm nêu là đúng, không oan. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B xét xử đối với bị cáo Đỗ Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan sai.

. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B, Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc bị hại là anh Đàm Trung K có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Đỗ Văn T là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Căn cứ khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Xuân T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B để hủy bản án sơ thẩm và đỉnh chỉ vụ án.

Lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm. Bị cáo không có quyền yêu cầu bồi thường do đình chỉ vụ án.

Bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

. Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2, Điều 155; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn T.

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B và đình chỉ vụ án.

2. Án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Văn T không phải chiuh án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ