vanban.org

Bản án 72/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Bùi Văn T được ly hôn chị Trần Thị T.

Về án phí: Anh Bùi Văn T chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền anh T đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Thạch Thành, theo biên lai số: AA/2016/0003753 ngày 20/8/2019. Anh T đã nộp đủ tiền án phí. Trường hợp bản án được thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Chị T yêu cầu được ly hôn anh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Bùi Văn T được ly hôn chị Trần Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/HNGĐ - ST
Ngày 30-10-2019
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Thanh

2. Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Tòa án, TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 30/10/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số:185/2019/TLST- HNGĐ ngày 20/8/2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17/10/2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Bùi Văn T; Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

2.Bị đơn: Chị Trần Thị T; Sinh năm: 1994

Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt anh T vắng mặt chị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/7/2019, trong bản tự khai ngày 21/8/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh Bùi Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/12/2016 tại Ủy ban nhân dân (Viết tắt là UBND) xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn hai bên chưa tìm hiểu kỹ về nhau nên khi về chung sống một nhà luôn sảy ra bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Thời gian kéo dài khiến cho cả hai vợ chồng đều cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Anh và chị T đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, không còn quan hệ tình cảm với nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc đã tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

Về con cái và tài sản: Vợ chồng không có con chung và không có tài sản chung, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập chị T để nộp bản tự khai nhưng chị T đều vắng mặt nên không có lời khai của chị T trong hồ sơ vụ án. Cũng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T, chị T đã nhận văn bản nhưng từ chối ký nhận vào các biên bản tống đạt của Tòa án với lý do chị là người theo đạo thiên chúa nên không được ly hôn. Tòa án đã cùng với chính quyền địa phương lập biên bản về việc chị T đã nhận văn bản nhưng không ký nhận vào biên bản tống đạt để làm căn cứ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

. Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự nhưng chị T không có mặt. Do đó, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt chị T và đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho chị T theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

[2]. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ chị T đến phiên hoà giải hai lần nhưng chị T đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.

. Chị T cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

.Về hôn nhân: Anh Bùi Văn T và chị Trần Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/12/2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân gia đình, như vậy là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 28 BLTTDS. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn hai bên chưa tìm hiểu kỹ về nhau nên khi về chung sống một nhà thì luôn sảy ra bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Thời gian kéo dài khiến cho cả hai vợ chồng đều cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này, đã được các cấp chính quyền xã T xác nhận. Nay anh T nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị T, trong khi đó chị T không đến để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, nghĩ nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Bùi Văn T được ly hôn chị Trần Thị T.

.Về con cái: Vợ chồng không có con chung, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

.Về tài sản: Anh T không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

.Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS;Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Bùi Văn T được ly hôn chị Trần Thị T.

2. Về án phí: Anh Bùi Văn T chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền anh T đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Thạch Thành, theo biên lai số: AA/2016/0003753 ngày 20/8/2019. Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt anh Bùi Văn T, vắng mặt chị Trần Thị T. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ