vanban.org

Bản án 72/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái áo khoác dài tay màu xám, 01 quần thun dài màu đen theo Phiếu nhập kho vật chứng số 496/17/PNK ngày 17-11-2017 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2018/HSST
Ngày: 03-05-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Cao Kim Triều

2. Bà: Lê Thị Yến Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến Như – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, số 06 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2018/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Thanh C, giới tính: nữ, ngày sinh 01-01-1957 tại N, nước C; Hộ khẩu thường trú: Không có; chỗ ở: không có nơi cư trú nhất định, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, trình độ học vấn: không, nghề nghiệp: không, con ông A M (đã chết) và bà Trương Thị T (Đã chết), cha nuôi Huỳnh Minh T (Đã chết); tiền án – tiền sự: không; nhân thân: bản án 03/HSST ngày 29-01-2002 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử bị cáo 03 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 03-11-2017; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Hồ Thị T; Hộ khẩu thường trú: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố T; nơi cư trú: 134/1/12A đường C, Phường 10, Quận X, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 5 giờ 30 phút ngày 3-11-2017, Huỳnh Thị Thanh C đi vào bệnh viện Từ Dũ, số 191 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đến phòng 106 khu A, C nhìn thấy chị Hồ Thị T đang nằm ngủ trên giường số 2, dưới chân chị T có để một chiếc điện thoại di động iphone 6 màu xám. Lợi dụng sơ hở chị T đang ngủ, C đi vào phòng lén lút dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi áo khoác bên phải rồi bỏ đi. Lúc này, chị T tỉnh dậy phát hiện chiếc điện thoại bị mất và nhìn thấy C đang đứng trước cửa phòng nên chị T chạy đến giữ C lại để kiểm tra thì phát hiện chiếc điện thoại của mình trong túi áo khoác của C. Thấy bị chị T phát hiện nên C thừa nhận đã lấy trộm điện thoại của chị T và xin chị T tha cho C, chị T liền lấy điện thoại lại và đi vào phòng. Trong lúc chị T đang giữ C và lấy lại chiếc điện thoại Iphone 6 màu xám từ trong túi áo khoác của C thì có chị Lê Thị A ở chung phòng chị T nhìn thấy. Khi chị T quay về phòng và kể lại việc C lấy chiếc điện thoại cho chị A nghe, chị A liền đuổi theo và báo bảo vệ bệnh viện bắt giữ đưa đến công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra Huỳnh Thị Thanh C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám, theo Kết luận định giá số 234/KLĐGTS ngày 11-11-2017 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám trị giá 6.697.000 đồng.

Thu giữ của Huỳnh Thị Thanh C

- 01 cái áo khoác dài tay màu xám, 01 quần thun dài màu đen.

Tại Cáo trạng số 34/CTr-VKSNDQ1 ngày 30 tháng 01 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 vẫn giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Huỳnh Thị Thanh C về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù; xử lý vật chứng của vụ án: tịch thu, tiêu hủy 01 cái áo khoác dài tay màu xám, 01 quần thun dài màu đen.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 03-11-2017 khi bị cáo Huỳnh Thị Thanh C có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu iphone 6 màu xám của chị Hồ Thị T tại phòng 106 Khu A Bệnh viện phụ sản Từ Dũ số 191 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1. Như vậy, tài sản bị cáo trộm cắp là 01 chiếc điện thoại di động hiệu iphone 6 màu xám, theo Kết luận định giá số 234/KLĐGTS ngày 11-11-2017 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự 1 kết luận 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám trị giá 6.697.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Thị Thanh C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo Huỳnh Thị Thanh C là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình phạm tội. Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu; tại bản án 03/HSST ngày 29-01-2002 của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử bị cáo 03 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại người bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu iphone 6 màu xám và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Xử lý vật chứng:

01 cái áo khoác dài tay màu xám, 01 quần thun dài màu đen bị cáo khai đã cũ không còn giá trị sử dụng do đó, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm p, g khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh C 09 (Chín) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày: 03-11-2017;

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 cái áo khoác dài tay màu xám, 01 quần thun dài màu đen theo Phiếu nhập kho vật chứng số 496/17/PNK ngày 17-11-2017 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí:

- Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

- Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Chị T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ