vanban.org

Bản án 72/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn N - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 72 /2018/HSST
Ngày: 25/ 12/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đặng Xuân Hoan

Các Hội thẩm :

Ông: Lê Văn Toàn.

Ông: Nguyễn Như Kỳ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Trần Thị Hồng Vân. Thư ký, Toà án nhân dân huyện H .

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dân. Kiểm sát viên. Trong ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66 /2018/HSST ngày 07/12 /2018. Theo QĐĐVAXX số 80 ngày 12/12/2018 của TAND huyện H- NA

Đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn N.Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 11/6/1988 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: Xóm Đồng Nang, xã Hạ Sơn, huyện Q, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thổ. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 0/12. Con ông: Trương Văn Đường (Đã chết). Con bà: Trương Thị Lý, sinh năm: 1942. Vợ: Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1978. Có 02 con: Lớn 04 tuổi, nhỏ 01 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Nghệ An từ ngày 30/10/2018. Có mặt.

Các bị hại:

1- Chị: Hoàng Thị Q. Sinh năm: 1990. Có mặt.

Trú tại: Xóm Vạn Xuân, xã GX, huyện H, tỉnh Nghệ An.

2- Chị: Lê Thị Hoa. Sinh năm: 1983. Có mặt.

Trú tại: Xóm Vạn Xuân, xã GX, huyện H, tỉnh Nghệ An.

- 1 -

3- Chị: Nguyễn Thị H. Sinh năm: 1974. Có mặt.

Trú tại: Xóm Vạn Long, xã GX, huyện H, tỉnh Nghệ An.

4- Chị: Hoàng Thị K. Sinh năm: 1978. Có mặt.

Trú tại: Xóm Hoàng Xuân, xã TX, huyện H, tỉnh Nghệ An.

5- Chị: Trương Thị T. Sinh năm: 1981. Có mặt.

Trú tại: Xóm Hoàng Xuân, xã TX, huyện H, tỉnh Nghệ An.

6- Ông: Trần Tiến D. Sinh năm: 1951. Có mặt.

Trú tại: Xóm Hoàng Xuân, xã TX, huyện H, tỉnh Nghệ An.

Người làm chứng:

Chị: Nguyễn Thị N. Sinh năm: 1978. Có mặt.

Trú tại: Xóm Đồng Nang, xã Hạ Sơn, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà: Nguyễn Thị Thủy. Trợ giúp viên pháp lý. Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, thuộc Trung tâm trợ giúp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 30/10/2018, sau khi uống rượu tại nhà ở xóm Đồng Nang, xã Hạ Sơn, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì Trương Văn N cầm 01 con dao nhọn dài 47cm và mang theo 02 chiếc bật lửa ga đến khu vực đồi núi giáp ranh giữa xã Hạ Sơn, huyện Q và xã TX, huyện H, tỉnh Nghệ An để tìm đốt ong. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến bãi mía ở khu vực bậc thang của gia đình chị Hoàng Thị K (1978), trú tại xóm Hoàng Xuân, xã TX, huyện H thì Trương Văn N nhớ ra cách đây 03 ngày mình đi thả bò tại khu vực này và bị một người phụ nữ không quen biết chửi, vì đã để bò ăn mía nên Trương Văn N nảy sinh ý định đốt bãi mía này cho hả giận. Sau đó, Trương Văn N tiến vào trong khu vực bãi mía của chị Khanh rồi dùng bật lửa ga đốt vào lá mía khô. Sau khi ngọn lửa cháy lan rộng đến 02 bãi mía giáp ranh của gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng (1951) và gia đình chị Trương Thị T (1981), đều trú tại xóm Hoàng Xuân, xã TX, huyện H thì Trương Văn N bỏ chạy theo hướng về Khe Lồi thuộc xã GX, huyện H để tránh sự phát hiện. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi chạy đến cây Gạo cách Khe Lồi khoảng 500 mét hướng vào Thác nước Vạn Tân thuộc xóm Vạn Long, xã GX, huyện H thì Trương Văn N nhìn thấy có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 37F5- 3483 của chị Lê Thị Hoa (1983) và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, biển kiểm soát: 37L1- 0636 của chị Nguyễn Thị H (1974), đều trú tại xóm Vạn Long, xã GX, huyện H đang dựng sát nhau ngay dưới gốc cây Gạo. Trên hai chiếc xe này có phủ lá mía khô để che nắng và không có người trông coi nên Trương Văn N tiến lại gần 02

- 2 -

chiếc xe rồi dùng con dao nhọn tháo lấy 02 chiếc bình ắc quy và 02 chiếc bóng đèn pha. Sau đó, Trương Văn N đi bộ lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát: 37Z7-7299 của chị Hoàng Thị Q (1990), trú tại xóm Vạn Xuân, xã GX, huyện H đang dựng cách đó khoảng 03 mét ở phía đối diện bên đường rồi dùng dao nhọn phá ốp đèn pha lấy 02 chiếc bóng đèn thì phát hiện 01 bóng đã bị cháy, sau đó Trương Văn N dùng bình ắc quy vừa lấy trộm được thử chiếc bóng đèn còn lại thì bị chập điện, cháy bóng nên Nhất vứt bỏ 02 chiếc bóng đèn này rồi ngồi xuống nghỉ, châm thuốc lá hút. Quá trình ngồi hút thuốc lá thì Trương Văn N nảy sinh ý định châm lửa đốt 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream của chị Hoa và chị Hồng, vì Trương Văn N nghĩ 02 chiếc xe máy này là của hai người đàn ông mà trước đó khoảng 10 ngày đã đuổi đánh Nhất tại khu vực này nên Trương Văn N dùng bật lửa ga châm lửa đốt 02 chiếc xe máy này. Sau đó, Trương Văn N vứt lại chiếc bật lửa ga rồi nhanh chóng cầm con dao nhọn và mang 02 chiếc bình ắc quy cùng 02 chiếc bóng đèn pha vừa lấy trộm được về nhà.

Đến 20 giờ cùng ngày, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Trương Văn N đã đến Công an huyện H xin đầu thú, mong được hưởng sự khoan hồng pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 07/11/2018 Hội đồng định giá của UBND huyện H kết luận:

- 01 (một) chiếc bình ắc quy màu đen loại 12V, trên bề mặt bình có chữ số 02087, nhãn hiệu GS-GT6AVRLA, đã qua sử dụng, có giá trị: 132.000 đồng (Một trăm ba mươi hai nghìn đồng).

- 01 (một) chiếc bình ắc quy màu đen loại 12V, trên bề mặt bình có chữ số 060315, nhãn hiệu GOSIY5L-BS, đã qua sử dụng, , đã qua sử dụng, có giá trị: 115.000 đồng (Một trăm mười lăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V25/25W, nhãn hiệu STANLEY, đã qua sử dụng, có giá trị: 24.000 đồng (Hai mươi tư nghìn đồng).

- 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V35/35W, nhãn hiệu SUNSHING, đã qua sử dụng, có giá trị: 24.000 đồng (Hai mươi bốn nghìn đồng).

- 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V/35W, nhãn hiệu OSRAM, đã qua sử dụng, có giá trị: 16.000 đồng (Mười sáu nghìn đồng).

- 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V/35W, nhãn hiệu OSRAM, đã qua sử dụng, có giá trị: 16.000 đồng (Mười sáu nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản mà Trương Văn N đã chiếm đoạt vào ngày 30/10/2018 là 327.000 đồng (Ba trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 37F5- 3483, đã qua sử dụng, có giá trị: 7.020.000 đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

- 3 -

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, biển kiểm soát: 37L1-0636, đã qua sử dụng , có giá trị: 7.840.000 đồng (Bảy triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

- Diện tích 1.008,5 m2 thửa mía của gia đình chị Hoàng Thị K có năng suất là 9.229,792 kg, có giá trị: 3.691.916 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm mười sáu đồng).

- Diện tích 551,25 m2 thửa mía của gia đình bà Trương Thị T có năng suất là 5.530,14 kg, có giá trị: 2.212.060 đồng (Hai triệu hai trăm mười hai nghìn không trăm sáu mươi đồng).

- Diện tích 1.033,5 m2 thửa mía của gia đình ông Trần Tiến D có năng suất là 8.247,33 kg, có giá trị: 3.298.932 đồng (Ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn chín trăm ba hai đồng).

Tổng giá trị tài sản mà Trương Văn N hủy hoại vào ngày 30/10/2018 là 24.062.908 đồng (Hai mươi tư triệu không trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm linh tám đồng)

Tại bản cáo trạng số: 01/CT- VKS- HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Trương Văn N ra trước Tòa án nhân huyện H để xét xử về tội “Hủy hoại tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử :

a- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt Trương Văn N mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/10/2018.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS quy đinh “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” nhưng xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng gì lớn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

b- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo sơ mi dài tay sọc trắng xanh, áo có khuy cúc, ở hai đầu ống áo bị cắt, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần giun màu đen, sọc trắng, loại quần nam, đã qua sử dụng; 01(một) con dao nhọn dài 47 cm, phần lưỡi dao dài 34cm, phần cán dao dài

- 4 -

13cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng, vì không còn giá trị sử dụng.

c- Về dân sự: Trương Văn N phải bồi thường cho chị Lê Thị Hoa số tiền: 7.020.000 đồng; Cho chị Nguyễn Thị H số tiền: 7.840.000 đồng; Cho chị Hoàng Thị K số tiền: 3.691.916 đồng; Bồi thường cho chị Trương Thị T số tiền: 2.212.060 đồng và bồi thường cho ông Trần Tiến D số tiền: 3.298.932 đồng.

d- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, miễn nộp án phí HSST và DSST cho Trương Văn N, vì gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế khó khăn.

Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện H về tội danh đã truy tố và các điều luật đã áp dụng, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 30/10/2018, do mâu thuẫn cá nhân không rõ ràng nên Trương Văn N đã dùng bật lửa ga thực hiện 02 hành vi hủy hoại tài sản trên địa bàn 02 xã TX và xã GX, huyện H, gây thiệt hại với tổng giá trị tài sản là 24.062.908 đồng (Hai mươi tư triệu không trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm linh tám đồng). Cụ thể: Khoảng 12 giờ ngày 30/10/2018 tại khu vực ruộng bậc thang thuộc xóm Hoàng Xuân, xã TX, huyện H, Trương Văn N đã đốt cháy ruộng mía của gia đình chị Hoàng Thị K, với diện tích 1.008,5m2, có giá trị: 3.691.916 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm mười sáu đồng);

- 5 -

Đốt cháy ruộng mía của chị Trương Thị T, với diện tích 551,25m2, có giá trị: 2.212.060 đồng (Hai triệu hai trăm mười hai nghìn không trăm sáu mươi đồng); Đốt cháy ruộng mía của ông Trần Tiến D, với diện tích 1.033,5m2, có giá trị: 3.298.932 đồng (Ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn chín trăm ba hai đồng). Sau đó, khoảng 14 giờ cùng ngày, Trương Văn N đi đến cây Gạo cách Khe Lồi khoảng 500 mét hướng vào Thác nước Vạn Tân thuộc xóm Vạn Long, xã GX, huyện H đốt cháy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 37F5- 3483 của chị Nguyễn Thị Hoa, có giá trị: 7.020.000 đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi nghìn đồng); Đốt cháy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, biển kiểm soát: 37L1- 0636, của chị Nguyễn Thị H, có giá trị: 7.840.000 đồng (Bảy triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại khoản 1, Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định: "Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

Như vậy hành vi phạm tội trên của Trương Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc dùng bật lửa ga để đốt tài sản của người khác là bị pháp luật trừng trị, bị xã hội lên án, nhưng chỉ vì một mâu thuẫn không rõ ràng với người khác mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật. Vì vậy, để nói lên sự nghiêm minh của phát luật, cũng như bài học cho những đối tượng khác đang có ý đồ tương tự, đem lại sự bình yên cho xã hội, nên áp dụng cho bị cáo mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thì gian là cần thiết. Song cũng cần giảm nhẹ mức án cho bị cáo, vì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã đến cơ quan điều tra để đầu thú, là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên. Quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- 6 -

Về hình phạt bổ sung: Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS quy đinh “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, nhưng xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng gì lớn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa:

- Bị hại chị Hoàng Thị Q bị mất trộm 02 chiếc bóng đèn pha xe máy nhưng chị Quyên không yêu cầu Trương Văn N bồi thường dân sự. Nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- Bị hại chị Lê Thị Hoa, yêu cầu Trương Văn N bồi thường số tiền: 7.020.000 đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

Bị hại chị Nguyễn Thị H, yêu cầu Trương Văn N bồi thường số tiền: 7.840.000 đồng (Bảy triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

- Bị hại chị Hoàng Thị K, yêu cầu Trương Văn N bồi thường số tiền: 3.691.916 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm mười sáu đồng).

- Bị hại chị Trương Thị T, yêu cầu Trương Văn N bồi thường số tiền: 2.212.060 đồng (Hai triệu hai trăm mười hai nghìn không trăm sáu mươi đồng).

- Bị hại ông Trần Tiến D, yêu cầu Trương Văn N bồi thường số tiền: 3.298.932 đồng (Ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn chín trăm ba hai đồng).

Căn cứ vào biên bản định giá tài sản số 30 ngày 07/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện H, tỉnh Nghệ An đã kết luận. Mặt khác trong quá trình điều tra bị cáo cũng chưa bồi thường cho các bị hại, nên những yêu cầu của các bị hại là có căn cứ, nên buộc bị cáo phải bồi thường số tiền trên là phù hợp và đúng với quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra có thu giữ:

- 01 (một) chiếc bình ắc quy màu đen loại 12V, trên bề mặt bình có chữ số 02087, nhãn hiệu GS-GT6AVRLA, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V35/35W, nhãn hiệu SUNSHING, đã qua sử dụng. Đây là các tài sản của chị Lê Thị Hoa (1983), trú tại xóm Vạn Xuân, xã GX, huyện H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

- 01 (một) chiếc bình ắc quy màu đen loại 12V, trên bề mặt bình có chữ số 060315, nhãn hiệu GOSIY5L-BS, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V25/25W, nhãn hiệu STANLEY, đã qua sử dụng. Đây là các tài sản của chị Nguyễn Thị H (1974), trú tại xóm Vạn Long, xã GX, huyện H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

- 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc

- 7 -

áo sơ mi dài tay sọc trắng xanh, áo có khuy cúc, ở hai đầu ống áo bị cắt, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc quần giun màu đen, sọc trắng, loại quần nam, đã qua sử dụng; 01(một) con dao nhọn dài 47 cm, phần lưỡi dao dài 34cm, phần cán dao dài 13cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng. Đây là những công cụ, đồ vật mà Trương Văn N đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển giao đến kho vật chứng của Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện H bảo quản, xử lý theo quy định pháp luật.

Xét thấy:

- 01 (một) chiếc bình ắc quy màu đen loại 12V, trên bề mặt bình có chữ số 02087, nhãn hiệu GS-GT6AVRLA, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V35/35W, nhãn hiệu SUNSHING, đã qua sử dụng. Đây là các tài sản của chị Lê Thị Hoa (1983), trú tại xóm Vạn Xuân, xã GX, huyện H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại tài sản cho chủ sở. 01 (một) chiếc bình ắc quy màu đen loại 12V, trên bề mặt bình có chữ số 060315, nhãn hiệu GOSIY5L-BS, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bóng đèn pha xe máy loại 12V25/25W, nhãn hiệu STANLEY, đã qua sử dụng. Đây là các tài sản của chị Nguyễn Thị H (1974), trú tại xóm Vạn Long, xã GX, huyện H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là có căn cứ. Nên Hội Đồng Xét xử miễn xét.

- 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo sơ mi dài tay sọc trắng xanh, áo có khuy cúc, ở hai đầu ống áo bị cắt, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc quần giun màu đen, sọc trắng, loại quần nam, đã qua sử dụng; 01(một) con dao nhọn dài 47 cm, phần lưỡi dao dài 34cm, phần cán dao dài 13cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng. Đây là những công cụ, đồ vật mà Trương Văn N đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy.

VÒ ¸n phÝ: Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, miễn nộp án phí HSST và DSST cho Trương Văn N, vì gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế khó khăn.

Đối với hành vi Trương Văn N lấy trộm 02 bình ắc quy và 04 chiếc bóng đèn pha xe máy với tổng trị giá 327.000 đồng. Do Trương Văn N chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về một trong các tội quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật hình sự, nên hành vi trên của Trương Văn N không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trương Văn N về hành vi trộm cắp tài sản là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

V× c¸c lÏ trªn:

- 8 -

QuyÕt ®Þnh

1- Tuyªn bè bÞ c¸o: Trương Văn N ph¹m téi “ Hủy hoại tài sản”.

2- Về Điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xử phạt: Trương Văn N 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/10/2018.

3- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589 BLDS

Xử: Buộc bị cáoTrương Văn N phải bồi thường cho các bị hại: chị Lê Thị Hoa số tiền: 7.020.000 đồng; chị Nguyễn Thị H số tiền: 7.840.000 đồng; chị Hoàng Thị K số tiền: 3.691.916 đồng; chị Trương Thị T số tiền: 2.212.060 đồng và bồi thường cho ông Trần Tiến D số tiền: 3.298.932 đồng.

KÓ tõ ngµy cã ®¬n yªu cÇu thi hµnh ¸n cña ng êi ® îc thi hµnh ¸n cho ®Õn khi thi hµnh xong tÊt c¶ c¸c kho¶n tiÒn, hµng th¸ng bªn ph¶i thi hµnh cßn ph¶i chÞu kho¶n tiÒn l·i cña sè tiÒn cßn ph¶i thi hµnh ¸n theo møc l·i suÊt theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 2 §iÒu 468 Bé luËt d©n sù n¨m 2015.

Tr êng hîp quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6, 7 vµ 9 LuËt thi hµng ¸n d©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

4-Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi giày thể thao màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo sơ mi dài tay sọc trắng xanh, áo có khuy cúc, ở hai đầu ống áo bị cắt, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc quần giun màu đen, sọc trắng, loại quần nam, đã qua sử dụng; 01(một) con dao nhọn dài 47 cm, phần lưỡi dao dài 34cm, phần cán dao dài 13cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Nghệ An lập vào ngày 12/12/2018.

5- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, miễn nộp án phí HSST và DSST cho Trương Văn N, vì gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế khó khăn.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, các bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

- 9 -

N¬i nhËn

TM/ héi ®ång xÐt xö

- VKSND H.H

thÈm ph¸n - chñ täa phiªn tßa

- C«ng an H. H

- Tßa ¸n tØnh NghÖ An.

- Chi côc THADS H. H

- BÞ c¸o.

- Các bị hại.

Đặng Xuân Hoan

- Lưu hå s¬.

- 10 -

Cỡ chữ