- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Viet Dung trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết D phạm tội: Trộm cắp tài sản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71 /2020/HS-ST Ngày 19/ 8 / 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Luyện và ông Nguyễn Văn Đương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Viết D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/8/1988 tại xã Thịnh Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn 12/12; Con ông Nguyễn Viết Hiền và bà Dương Thị Mai; Vợ: Nguyễn Thị Bình và có 02 con còn nhỏ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Cao T, sinh năm 1974 Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh N. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Thái Văn V, sinh năm 1958 Địa chỉ: Xóm H, xã S, huyện Đ, tỉnh N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 7 giờ ngày 04/5/2020, Nguyễn Viết D đi bộ từ nhà đến thị trấn Đô Lương để mua ma túy sử dụng. Do trong người không có tiền nên Nguyễn Viết D đi bộ xung quanh thị trấn Đô Lương để xem ai có sơ hở thì thực hiện hành vi trộm cắp. Đến khoảng 8 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Viết D đi bộ dọc Quốc lộ 7 hướng từ thị trấn Đô Lương đi xã Yên Sơn, huyện Đô Lương. Khi đến địa phận xóm Hoa Trường, xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An, Nguyễn Viết D thấy 01 (một) chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius màu xanh mang biển kiểm soát: 29L7-6369 (Đây là chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Cao P, sinh ngày 04/5/1974, trú tại số 305, K2 - Đại học Bách Khoa, Hai Bà Trưng Hà Nội. Vào năm 2017, anh Nguyễn Cao Phương giao chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Cao T, sinh ngày 27/4/1974, trú tại xóm Hoa Trường, xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An quản lý và sử dụng cho đến nay) có gắn chìa khóa xe ở ổ khóa xe mô tô được đặt phía bên phải, sát lề đường, trước ngôi nhà của anh Nguyễn Cao T đang thi công, xung quanh không có ai. Nguyễn Viết D tiếp tục đi qua chiếc xe mô tô đó khoảng 10 m và ngó nhìn xung quanh xem có người khác không rồi quay lại ngồi ở lề đường cạnh chiếc xe và tiếp tục quan sát xung quanh. Khoảng 2 phút sau, khi không thấy ai để ý, Nguyễn Viết D ngồi lên xe mô tô và tiếp tục nhìn xung quanh một lần nữa để chắc chắn không có ai để ý rồi Nguyễn Viết D mở khóa xe mô tô, nổ máy và chạy xe lại hướng lên thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, Nghệ An. Trên đường đi, Nguyễn Viết D có dừng xe lại, kiểm tra cốp xe có 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Cao Phương và 01 (một) chứng minh nhân dân, 01 (một) giấy phép lái xe, 01 (một) thẻ ATM cùng mang tên Nguyễn Cao T; Nguyễn Viết D lấy giấy đăng ký mô tô, xe máy ra để vào ở túi quần bên trái phía trước của mình còn giấy tờ khác Nguyễn Viết D vứt ở vệ đường, không nhớ vị trí cụ thể. Nguyễn Viết D chạy xe đến tiệm cầm đồ Hoàng Anh, trú tại khối 2, thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, Nghệ An để bán xe. Khi đến quán cầm đồ Hoàng Anh nhưng không cầm được chiếc xe mô tô trên. Nguyễn Viết D tiếp tục đi đến các tiệm cầm đồ khác nhưng cũng không bán, cầm được. Sau đó, Nguyễn Viết D đến tiệm mua, bán đổi xe máy cũ Việt Phương thuộc xóm Hồ Sen Khuôn, xã Hòa Sơn , huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An của ông Thái Văn V, sinh năm 1958, trú tại xóm Hồ Sen Khuôn, xã Hòa Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An để hỏi bán xe. Nguyễn Viết D nói với ông Thái Văn V “Bác có mua xe máy cũ không bác, cháu muốn bán xe ni, giấy tờ đầy đủ, cháu bán để ra Hà Nội làm chứ lâu giờ ở nhà dịch không có việc”, ông Thái Văn V xem chiếc xe và hỏi Nguyễn Viết D “xe ni chú bán mấy?”, Nguyễn Viết D trả lời “Hai triệu rưỡi không bác” ông Thái Vãn Việt không đồng ý. Sau một lúc trao đổi, Nguyễn Viết D đồng ý bán cho ông Thái Văn V số tiền 1.800.000 đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng ). Nguyễn Viết D nhờ ông Thái Văn V chở lên trung tâm thương mại huyện Đô Lương thuộc khối 3, thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, ông Thái Văn V đưa cho Nguyễn Viết D số tiền 1.800.000đ(Một triệu tám trăm nghìn đồng) gồm 9 (chín) tờ tiền mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, Nguyễn Viết D đi mua ma túy sử dụng nhưng không mua được nên Nguyễn Viết D đi bộ về nhà.
Ngày 06/5/2020, Nguyễn Viết D nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Dũng đã đến Công an huyện Đô Lương để đầu thú và giao nộp số tiền 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) là số tiền còn lại sau khi Nguyễn Viết D đã bán chiếc xe mô tô trên. Tại bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Đô Lương số 936 ngày 14/5/2020 kết luận: 01 (Một) chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius màu xanh mang biển kiểm soát 29L7-6369 có giá trị thực tế tại thời điểm bị mất cắp là 3.000.000 đ (Ba triệu đồng).
Về dân sự:
Anh Nguyễn Cao T đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 29L7-9369 nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ông Thái Văn V yêu cầu bị cáo Nguyễn Viết D bồi thường số tiền 1.800.000 đồng là số tiền đã mua chiếc xe máy trên. Ông Việt đã nhận 270.000 đồng do Nguyễn Viết D giao nộp.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Viết D về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử :
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết D mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
+ Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Thái Văn V số tiền 1.530.000đ (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
+ Về dân sự, án phí, vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 8 giờ 20 phút ngày 04/5/2020, tại căn nhà đang thi công của anh Nguyễn Cao T tại xóm Hoa Trường, xã Yên Sơn, huyện Đô Lương. Lợi dụng việc anh Nguyễn Cao T sơ hở trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Viết D đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy Yamaha Sirius biển kiểm soát 29L7 6369, trị giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Viết D đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy cáo trạng của VKSND huyện Đô Lương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn, làm cho nhân dân không yên tâm lao động sản xuất. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy đang điều trị bằng thuốc methadone. Mặc dù bị cáo có đủ nhận thức pháp luật về điều khiển hành vi của mình, nhưng vẫn coi thường pháp luật thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do vậy cần lên một mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo để trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa trộm cắp tài sản đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn.
. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai bảo thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú tại cơ quan công an và tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có thu nhập không ổn định và không có tài sản giá trị lớn nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: - 01 (một) chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius màu xanh mang biển kiểm soát 29L7-6369 của Nguyễn Cao Phương, 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Cao Phương trả lại cho anh Nguyễn Cao T là người đang được giao quản lý, sử dụng là đúng quy định pháp luật.
- Số tiền 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) trả lại cho ông Thái Vân Việt là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định. Nên miễn xét.
- 01 (một) chiếc áo thun có cổ màu xanh lục, 01 (một) chiếc quần soóc màu nâu xám, 02 (hai) chiếc dép tổ ong màu xanh dương, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Viết D không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Cao T đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 29L7-9369 nên không yêu cầu bồi thường gì nữa. Nên Hội đồng xét xử miễn xét
Ông Thái Văn V yêu cầu bị cáo Nguyễn Viết D bồi thường số tiền 1.800.000đ là số tiền đã mua chiếc xe máy trên. Ông Việt đã nhận 270.000 đồng do Nguyễn Viết D giao nộp. Đây là giao dịch dân sự hợp pháp do ông Việt không biết được tài sản chiếc xe máy do trộm cắp mà có, cần chấp nhận yêu cầu của ông Việt buộc bị cáo Nguyễn Viết D còn phải bồi thường số tiền còn là 1.530.000 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết D phạm tội: Trộm cắp tài sản
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết D 09 ( chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 06/5/2020
3. Về phần bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Viết D phải bồi thường cho ông Thái Văn V số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền trả trước là 270.000đ (hai trăm bảy mươi nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Viết D còn phải bồi thường cho ông Thái Văn V số tiền 1.530.000đ (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo thun có cổ màu xanh lục, 01 (một) chiếc quần soóc màu nâu xám, 02 (hai) chiếc dép tổ ong màu xanh dương, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Viết D không ó giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng như ghi tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đô Lương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương).
5. Về án phí: Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Viết D phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Đô Lương; - CQ điều tra Công an h. Đô Lương; - Chi Cục THADS huyện Đô Lương; - Cơ quan THAHS huyện Đô Lương; - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. Héi thÈm nh©n d©n TRẦN VĂN LUYỆN NGUYỄN VĂN ĐƯƠNG xu©n ®¹i | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Đại ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa nguyÔn |