vanban.org

Bản án 702/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 18/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tố tụng Hình sự năm 2015,

Sửa một phần bản án sơ thẩm: 1, khoản 2 Điều 51 (điểm i khoản 1 Điều 51 áp dụng cho bị cáo Lê Thiên C); Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thiên C - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? tố tụng Hình sự năm 2015,
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 702/2019/HS-PT
Ngày: 18-9-2019

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành

Bà Đặng Thị Thanh Huyền

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền - Thư

ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Đình Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội xét xử phúc thẩm C khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 587/2019/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Lê Thiên C và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 145/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. LÊ THIÊN C, sinh ngày 15/8/19XX tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi

cư trú: Thôn L K, xã Đ G, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thiên D và bà Nguyễn Thị K; có vợ Đàm Thị T (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/5/2016 đến ngày 26/5/2016, hiện tại ngoại có mặt.

2. LÊ VĂN T, sinh ngày 06/11/19XX tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi cư

trú: Tổ dân phố X, phường T S T, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Bản án số 54/2007/HSST ngày 26/6/2007, TAND huyện Ba Vì xử

phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Bản án số 308/HSST ngày 31/8/2007, TAND quận Hoàng Mai xử

phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. NGUYỄN VĂN H, sinh ngày 28/12/19XX tại Hà Giang; ĐKHKTT

và nơi cư trú: Thôn L V X, thị trấn V X, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Hoàng Thị T; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/8/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang đưa vào trung tâm giáo dục 24 tháng theo Quyết định số 2250/QĐ ngày 23/8/2002. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/5/2016 đến ngày 26/5/2016, hiện tại ngoại có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H:

Ông Lê Ngọc Sơn - Luật sư C ty luật TNHH LAVI thuộc Đoàn luật sư

thành phố Hà Nội, có mặt.

Ngoài ra còn có 09 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng

cáo, kháng nghị:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 17/5/2016, Phòng cảnh sát hình sự C an thành phố

Hà Nội phối hợp công an phường Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội bắt quả tang Lê Thiên C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Hồng N, Lê Văn H, Hà Phi T, Lê Văn M, Trịnh Xuân V, Nguyễn Văn H đang có hành vi đánh bạc hình thức chơi xóc đĩa, được thua bằng tiền trong chiếc xe buýt hỏng BKS 29B-018.XX tại bãi xe Hải Vân ở lô 8 Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Ngoài ra, có mặt tại bãi xe còn có Hoàng Văn T, Vũ Hồng P, Lữ Trọng Trung T, Lê Văn T và Trần Danh T, cơ quan công an đã đưa các đối tượng trên về trụ sở để làm việc. Cơ quan công an thu giữ tang vật gồm: 01 bộ bát sứ; 04 quân vị; thu giữ dưới chiếu bạc số tiền: 5.750.000 đồng. Ngoài ra cơ quan công an thành phố Hà Nội còn thu giữ trong người của C: 2.000.000 đồng, của T: 1.000.000 đồng; của N 1.000.000 đồng; của T 500.000 đồng; của H 500.000 đồng.

Tại cơ quan công an, Lê Thiên C khai nhận: Khoảng hơn 23 giờ ngày

16/5/2016, C cùng Hà Phi T, Lê Văn H, Nguyễn Văn H, Lê Văn M, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Văn T, Trịnh Xuân V, Hoàng Văn T, Vũ Hồng P, Lữ Trọng Trung T, Lê Văn T tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa trên chiếc xe buýt hỏng BKS 29B-018.XX tại bãi xe của công ty Liên hiệp vận tải quốc tế Hải Vân ở Lô 8, Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. C lấy 01 bộ bát đĩa có sẵn trên xe và cắt 04 quân vị hình tròn từ vỏ bao thuốc lá để đánh bạc. C là người cầm cái. Cách thức chơi: quy định bên trái C là “lẻ” bên phải là “chẵn”, xóc quân vị nếu có 02 quân hoặc 04 quân vị đồng màu là chẵn; 03 quân vị đồng màu, 01 quân vị khác màu là lẻ. Nếu con bạc đặt cửa chẵn, khi xóc lên lẻ thì bên đặt cược lẻ được ăn tiền. Các đối tượng lúc đầu đánh mức đặt cửa thấp nhất của mỗi người trong một ván bài là 50.000 đồng. Khi bắt đầu chơi, C có khoảng 400.000 đồng dùng để đánh bạc, lúc bắt quả tang, thu giữ của C số tiền 2.000.000 đồng. Trong quá trình chơi, C thu tiền phí của một số con bạc được 400.000 đồng để đưa cho bảo vệ bãi xe. C đã đưa cho V số tiền 200.000 đồng để đưa cho bảo vệ bãi xe là Trần Danh T để được đánh bạc tại bãi xe Hải Vân. C đưa cho H số tiền 200.000 đồng để đưa cho một bảo vệ nữa nhưng H không đưa được do người này nghỉ làm. Đến 01giờ ngày 17/5/2016, lực lượng công an vào bắt quả tang. Do hoảng sợ, các đối tượng ném tiền đánh bạc xuống chiếu bạc. Cơ quan công an thành phố Hà Nội đã thu giữ tang vật như nêu trên.

Nguyễn Văn H khai: Khi bắt đầu chơi H có khoảng 300.000 đồng dùng

để đánh bạc, khi bị bắt H có khoảng 500.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng là tiền C đưa để nộp tiền phế nhưng không đưa được cho bảo vệ), H ném hết số tiền trên xuống dưới chiếu bạc.

Tại cơ quan công an, các đối tượng tham gia đánh bạc còn khai: Tham

gia đánh bạc cùng còn có Lê Văn T. Khi cơ quan công an vào bắt quả tang, T có mặt trên xe buýt BKS 29B-018.XX và T có tham gia đánh bạc đêm và rạng sáng ngày 17/5/2016.

Tại cơ quan công an, Lê Văn T khai không tham gia đánh bạc cùng các

đối tượng trên. T có mặt tại bãi xe do T đang dọn quán hàng nước bán ở gần bãi xe để cất vào phòng bảo vệ.

Cơ quan công an đã tiến hành cho nhận dạng và tiến hành đối chất giữa

T, N, V, H, T, M, T, T với T, tất cả đều nhận dạng và khẳng định T có tham gia đánh bạc đêm và rạng sáng ngày 17/5/2016.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 145/2019/HSST ngày 19 tháng 6 năm

2019 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã quyết định: Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh Bạc”.

- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm p khoản 1 điều 46, điều 33 BLHS

năm 1999 xử phạt bị cáo Lê Thiên C 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/5/2016 đến ngày 26/5/2016.

- Áp dụng khoản 1 điều 248, điều 33 BLHS năm 1999, xử phạt bị cáo

Lê Văn T 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm p khoản 1 điều 46, điều 33 BLHS

năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/5/2016 đến ngày 26/5/2016.

Ngoài ra bản án còn xử phạt các bị cáo khác từ 04 đến 06 tháng tù

nhưng cho hưởng án treo, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/6/2019 bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo; ngày

01/7/2019 bị cáo Lê Thiên C có đơn kháng cáo và ngày 03/7/2019 bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo. Các bị cáo đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn H đã

khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo với lý do: bị cáo C là lao động chính trong gia đình, vợ bỏ phải nuôi con nhỏ; bị cáo T chuyển bị lấy vợ, bố, mẹ già yếu, bị cáo là lao động chính; bị cáo H con còn nhỏ, bố, mẹ già cả, bị cáo là trụ cột trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi

tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xem xét kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thiên C, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn H và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H trình bày bản bào chữa

không có ý kiến gì về tội danh và điều luật. Tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa đánh giá hết các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như: bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt, con mới sinh, gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, kinh tế khó khăn; gia đình có công với cách mạng và tiền sự bị cáo được xóa đã rất lâu. Luật sư đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn

Văn H tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 17/5/2016, trong chiếc xe buýt hỏng BKS: 29B-018.XX tại bãi xe Hải Vân ở Lô 8 Nam Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội, các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn H cùng 09 bị cáo khác đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa” được thua bằng tiền, với tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.750.000 đồng thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của các bị cáo các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn H đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn

H thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án; bị cáo Lê Thiên C là người chuyển bị bát, đĩa, quân vị và cầm cái; bị cáo Lê Văn T không khai nhận về hành vi phạm tội, nhân thân có 02 tiền án đã xóa án tích; bị cáo Nguyễn Văn H có số tiền đánh bạc không lớn, nhân thân có 01 tiền sự năm 2002; bị cáo Lê Thiên C và Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã xử phạt bị cáo Lê Thiên C 06 tháng tù; bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo 04 tháng tù cùng về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Tuy nhiên buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội là không cần thiết bởi lẽ bị cáo Lê Thiên C nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Lê Văn T có 02 tiền án nhưng khác loại tội và được xóa đã lâu, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Văn H có 01 tiền sự khi ở tuổi chưa thành niên và được xóa đã lâu, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn; các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn H đủ điều kiện cho hưởng án treo. Chính vì vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn H thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mà cũng không gây nguy hại cho xã hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Các bị cáo kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên không

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật

tố tụng Hình sự năm 2015,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản

1, khoản 2 Điều 51 (điểm i khoản 1 Điều 51 áp dụng cho bị cáo Lê Thiên C); Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt:

+ Bị cáo Lê Thiên C 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian

thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 18/9/2019 về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho UBND xã Đ G, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Bị cáo Lê Văn T 04 (Bốn) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử

thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 18/9/2019 về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho UBND phường T S T, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Bị cáo Nguyễn Văn H 04 (Bốn) tháng tù, cho hưởng án treo; thời

gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 18/9/2019 về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho UBND thị trấn V X, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì

thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Lê Thiên C, Lê Văn T và Nguyễn Văn H không

phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo

khác, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ