vanban.org

Bản án 70/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thành V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thành V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thành V- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thành V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2026/HS-ST
Ngày: 14-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Tấn Đạt

2. Ông Ngô V Đơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Diệp Ngọc Dinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực A - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2026/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Thành V, sinh ngày 13/3/2008, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân: 072208000811; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp Phước L, xã Phước V, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần V T1 (đã chết) và bà Phan Thị T2; Chưa có vợ, con; Tiền án; Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 14/10/2025 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa của bị cáo Trần Thành V: Bà Lê Thị N, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Anh H, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ A, ấp Phước L, xã Phước V, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh H và Trần Thành V, sinh ngày 13/3/2008 là bạn bè quen biết ngoài xã hội từ năm 2024, thường xuyên thuê nhà nghỉ Thanh Trà, địa chỉ tại số B, đường C, khu phố Tương Bình H, phường Chánh H, Thành phố Hồ Chí Minh để ở qua đêm. Khoảng 17 giờ ngày 11/10/2025, khi H đang bán dừa tại khu vực Trạm thu phí Suối Giữa, phường Chánh H, Thành phố Hồ Chí Minh thì H nảy sinh ý định sử dụng ma túy đá nên H đã sử dụng zalo của H có tên “H Max” gọi đến zalo của Trần Thành V có tên “Thành V” để rủ V góp tiền mua ma túy sử dụng thì V đồng ý; H với V thống nhất là mua 200.000 đồng ma túy đá nên V đã chuyển khoản số tiền 100.000 đồng vào số tài khoản 102877869492 của H tại Ngân hàng Vietinbank. Sau đó, H tiếp tục sử dụng zalo của H gọi đến zalo của người bán ma túy tên “Lâm Phát” và hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý. Sau khi về đến phòng số 18 Nhà nghỉ Thanh Trà, H sử dụng điện thoại có số 0356.805.474 của H gọi đến số điện thoại 0899.647.768 của “Lâm Phát” để mua ma túy. Khoảng 10 phút sau, “Lâm Phát” điều kH xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Ultimo màu xám-bạc (không rõ biển số) đến gặp H, lúc này H đưa cho “Lâm Phát” số tiền 200.000 đồng và nhận lại 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín bên trong có chứa ma túy đá. Sau khi nhận được ma túy đá, H cất giấu ma túy đá vào túi quần và vào phòng số 21 Nhà nghỉ Thanh Trà nơi V đang thuê ở.

Tại đây, H và V cùng ăn uống với nhau đến khoảng 22 giờ thì cả hai vào nhà vệ sinh và lấy ma túy đá mua được lúc chiều cho vào nỏ thủy tinh và cắm nỏ thủy tinh vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi H đốt nóng số ma túy đá lên, H và V thay phiên nhau hút ma túy mỗi người được khoảng 03 lượt thì dừng và H lấy nỏ thủy tinh còn ma túy cất trên la phông phòng số 21, H đi về phòng số 18 để ngủ. Đến khoảng 18 giờ ngày 12/10/2025, H hỏi V có sử dụng ma túy đá không thì V đồng ý hùn 100.000 đồng và nói sẽ chuyển khoản nhưng chưa chuyển. H qua phòng 21 lấy nỏ thủy tinh còn ma túy H cất trên la phông vào ngày trước đó và đem vào phòng 18 V thuê ở cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đề đốt ma túy lên sử dụng, H với V thay phiên nhau đốt ma túy đá lên mỗi người hút được khoảng 3 hơi thì hết ma túy nên H rút nỏ thủy tinh cất vào túi quần còn chai nhựa, ống hút thì H để trong thùng rác trong phòng 18 rồi H đi ra ngoài quầy tiếp tân mua nước uống. Đến 22 giờ 20 phút cùng ngày, Công an phường Chánh Hiệp kiểm tra hành chính phòng số 18, nhà nghỉ Thanh Trà phát hiện Trần Thành V có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, thời điểm này H bỏ chạy. Sau đó, Công an phường đưa V về trụ sở để làm việc. Đến khoảng 09 giờ 30 ngày 13/10/2025 thì H đã đến Công an đến trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Qua kiểm tra nhanh chất ma túy trong cơ thể, kết quả V và H dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Ngoài 02 lần cùng sử dụng ma túy nêu trên thì H và V còn 03 lần khác cùng sử dụng ma túy tại nhà nghỉ Thanh Trà, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất và lần thứ hai vào khoảng đầu tháng 9/2025, H chở V đến khu vực sân banh phường Phú A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người bán ma túy tên “Lâm Phát” mua ma túy về cùng nhau sử dụng, tiền mua ma túy là của H, H không yêu cầu V góp tiền. Sau khi mua được ma túy, H và V thay phiên nhau đốt ma túy hút tại nhà nghỉ Thanh Trà (tại phòng số 24).

- Lần thứ ba vào ngày 27/9/2025, V và H thỏa thuận mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma túy, V đưa tiền mặt trực tiếp cho H, H và V mua ma túy của “Lâm Phát”, giao tại đầu hẻm nhà nghỉ Thanh Trà. Sau khi mua được ma túy, H và V thay phiên nhau đốt ma túy hút tại nhà nghỉ Thanh Trà (tại phòng số 21).

Vật chứng thu giữ, gồm: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11pro, màu xanh dương, số seri: C39ZKLAHN6XQ của Trần Thành V.

Quá trình điều tra, Trần Thành V đã khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái chép chất ma túy của mình. Trần Thành V khai số lượng ma túy để sử dụng là do Trần Thành V và Nguyễn Anh H cùng nhau góp tiền mua mua ma túy của đối tượng Lâm Phát không rõ lai lịch và nhiều lần đem về cùng nhau sử dụng tại nhà nghỉ Thanh Trà tại địa chỉ số 23, đường ĐX142, khu phố Tương Bình Hiệp 7, phường Chánh Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng.

Theo phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 13/10/2025 của Trung tâm y tế Khu vực T – Thành phố Hồ Chí Minh đối với Trần Thành V kết luận Dương tính với Methamphetamine.

Đối với số vật chứng gồm: 01 (một) iPhone 11pro, màu xanh dương, số seri: C39ZKLAHN6XQ của Trần Thành V, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15

- Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến cơ quan Thi hành án để đề nghị Tòa án nhân dân A - Thành phố Hồ Chí Minh tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Cáo trạng số 114/CT-VKSKV15 ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thành V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 12, Điều 115, khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Trần Thành V mức hình phạt từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro, màu xanh dương của Trần Thành V.

Người bào chữa của bị cáo Trần Thành V, Trợ giúp viên pháp lý Lê thị N trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn, ông ngoại bị cáo có công với cách mạng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, xử phạt bị cáo V mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thành V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của những người tham gia tố tụng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ khoảng đầu tháng 9/2025 đến ngày 12/10/2025, Trần Thành V và Nguyễn Anh H đã cùng nhau 05 lần góp tiền đi mua ma túy của đối tượng Lâm Phát không rõ lai lịch đem về cùng nhau tổ chức sử dụng tại nhà nghỉ Thanh T, địa chỉ tại số B, đường C, khu phố Tương Bình H, phường Chánh H, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15

- Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ cá nhân mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để quyết định mức hình phạt tương xứng, nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình của bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Ông ngoại của bị cáo là thương binh. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Từ những nhận định trên, xét thấy lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo V có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Nguyễn Anh H là người cùng góp tiền và sử dụng ma túy với Trần Thành V đã được tách ra để xử lý thành một vụ án khác. Đối với người cho ma túy cho bị cáo Trần Thành V, quá trình điều tra, Trần Thành V khai không rõ nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11pro, màu xanh dương, số seri: C39ZKLAHN6XQ của bị cáo V.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 12, Điều 155, khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thành V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thành V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 11pro, màu xanh dương, số seri: C39ZKLAKN6XQ của Trần Thành V, được đựng trong bì thư niêm phong có chữ ký Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Minh Tr và dấu đỏ của Phòng KTHS Công an thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 79.26 ngày 11 tháng 03 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ