vanban.org

Bản án 70/2017/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Trung K, giữ nguyên bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 201…

Bị cáo Bùi Trung K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trung K phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Trung K, giữ nguyên bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 201…
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2017/HS-PT
Ngày 26-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: ông Trần Hữu Sỹ

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Xuân Việt và ông Nguyễn Văn Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 63/2017/TLPT – HS ngày 07 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo Bùi Trung K, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2017/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Trung K, tên gọi khác: C; sinh ngày 10/4/1997 tại xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; nghề nghiệp: không; con ông: Bùi Văn S và bà Phạm Thị Minh T; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/6/2014 bị Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản (Bản án số: 28/2014/HSST), đã chấp hành án xong ngày 27/5/2015. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị cáo Hoàng Văn H, người bị hại là chị Nguyễn Thị L nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 09/4/2017, Bùi Trung K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73H1-141.93 của chị Nguyễn Thị K (mẹ của H) chở Hoàng Văn H từ thị trấn K đến xã M, huyện L, Quảng Bình. Khi đi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị L ở thôn C, xã M thấy xe mô tô biển kiểm soát 73N5-2526 dựng ở giữa sân nhà, K đứng ngoài canh gác, H vào lấy trộm xe. Cả hai đưa xe mô tô vừa trộm được đến khu vực đồng ruộng thôn M, xã M thì dừng lại, K tháo mặt nạ trước đầu xe, H nối dây điện khởi động xe rồi điều khiển xe trộm được đến dựng ở sân nhà anh Lê Minh T ở thôn M, xã X, huyện L rồi về nhà H nằm ngủ. Khoảng 12 giờ ngày 10/4/2017, H và K đưa xe mô tô BKS 73N5-2526 đến bán cho anh Q ở xã M, huyện L nhưng anh Q không mua. Sau đó K đưa xe của H về lại nhà của H, còn H tiếp tục đưa xe BKS 73N5-2526 đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt giữ. Khi nghe tin H bị bắt thì K đã bỏ đi khỏi địa phương, đến ngày 13/4/2017 thì K ra đầu thú. Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị L.

Hội đồng định giá tài sản huyện Lệ Thủy tiến hành định giá và kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 73N5-2526 do H và K chiếm đoạt tại nhà chị Nguyễn Thị L trị giá 3.200.000 đồng.

Tại bản án số: 21/2017/HSST ngày 04/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy đã tuyên bố bị cáo Bùi Trung K và bị cáo Hoàng Văn H phạm tội trộm cắp tài sản. Tòa án đã áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Hoàng Văn H 09 (chín) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bùi Trung K 06 (sáu) tháng tù.

Ngày 19/8/2017, bị cáo Bùi Trung K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo bị bạn bè rủ rê phạm tội và đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Trung K giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Trung K khai nhận đã cùng Hoàng Văn H lấy trộm 01 chiếc xe mô tô tại nhà chị Nguyễn Thị L có trị giá 3.200.000 đồng. Xét thấy lời khai của bị cáo Bùi Trung K phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung của án sơ thẩm. Do đó, có cơ sở khẳng định Bản án sơ thẩm số 21/2017/HSST ngày 04/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy tuyên bố bị cáo Bùi Trung K và bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Trung K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù Bị cáo Bùi Trung K không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo Bùi Trung K đã từng bị Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999 và khoản 2 Điều 51 (người phạm tội đầu thú) của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt mức án 06 tháng tù là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ gì mới, nên Hội đồng xét xử không thể chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

. Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Trung K, giữ nguyên bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bùi Trung K 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Bị cáo Bùi Trung K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (26/9/2017).

Cỡ chữ