- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Th V A có hành vi - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Vân A.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 695/2021/HS-PT Ngày: 18 /10/2021 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.
Các Thẩm phán:
Ông Mai Văn Quang.
Ông Nguyễn Đăng Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tiệp A, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đồng, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 649 /2021/TLPT-HS ngày 23 tháng 08 năm 2021đối với bị cáo Trần Thị Vân A phạm tội “ Mua bán hàng cấm” do có kháng cáo của Bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 132/HS-ST ngày 21 tháng 06 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị Vân A, sinh năm 19XX tại Hà Nội; Giới tính: Nữ; Hộ KTT và chỗ ở: 42 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc : Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Bi và bà: Vương Thị Bích M (Đã chết); Chồng là: Phương Gia L (Đã ly hôn); Có 03 con: Con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Chưa.
* Nhân thân: 01 tiền sự: Tháng 3/2018, Công an quận Hoàn Kiếm xử phạt hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu.
- Tạm giữ: 04/3/2021; Tạm giam: 13/3/2021; Hủy bỏ tạm giam: 13/4/2021. Hiện bị cáo đang áp dụng Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 4/3/2021, tổ công tác đội Cảnh sát kinh tế - Công an quận Hoàn Kiếm phối hợp với Công an phường Hàng Buồm phát hiện bị cáo Trần Thị Vân A đang có hành vi đóng gói, tập kết hàng hóa tại một căn hộ trong số 42 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, xác định số hàng hóa bị cáo Vân A đang đóng gói là thuốc lá điếu. Bị cáo Vân A không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa và thừa nhận số hàng hóa trên là thuốc lá nhập lậu, bị cáo Vân A thu mua lại để bán kiếm lời. Tổ công tác đưa bị cáo Vân A cùng tang vật về trụ sở công an quận Hoàn Kiếm để giải quyết.
Tạm giữ của bị cáo Vân A: 01 thùng tôn kích thước khoảng 45x70x65 cm; 01 thùng tôn kích thước khoảng 50x80x45 cm; 02 thùng caton kích thước khoảng 40x60x40 cm; 01 thùng caton kích thước khoảng 40x45x20 cm; 580 bao thuốc lá nhãn hiệu Zest Marula; 350 bao thuốc lá nhãn hiệu Raison Ice Cafe; 50 bao thuốc lá nhãn hiệu Raison French Yogo; 40 bao thuốc lá nhãn hiệu Raison Blue Cat; 30 bao thuốc lá nhãn hiệu Raison Sun Presso; 220 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE Change; 210 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE Light; 150 bao thuốc lá nhãn hiệu Capri; 50 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE in hình cây trúc; 520 bao thuốc lá nhãn hiệu Lucky Strike 1871; 170 bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro Double Burst; 30 bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro Gold; 190 bao thuốc lá nhãn hiệu Zouk; 80 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE Menthol; 120 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Gold; 50 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Original; 20 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Mandarin; 40 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Signature; 30 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Madarin Pearl; 60 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Deluxe; 20 bao thuốc lá nhãn hiệu More; 120 bao thuốc lá nhãn hiệu Mond Variance màu tím; 30 Mond Variance màu xA; 30 bao thuốc lá nhãn hiệu Geogre Karalias and Sons; 100 bao thuốc lá nhãn hiệu Gundang Garam; 80 bao thuốc lá nhãn hiệu Casster 5; 80 bao thuốc lá nhãn hiệu Chapman No.3; 110 bao thuốc lá nhãn hiệu Chapman No.2; 110 bao thuốc lá nhãn hiệu Chapman No.4; 20 bao thuốc lá nhãn hiệu Chapman No.1; 20 bao thuốc lá nhãn hiệu Davidoff; 40 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE Gold; 40 bao thuốc lá nhãn hiệu Oris; 50 bao thuốc lá nhãn hiệu Richmond Coffee; 230 bao thuốc lá nhãn hiệu Richmond Cherry; 60 bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro Purple; 70 bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro Dry; 70 bao thuốc lá nhãn hiệu Africa Mola; 100 bao thuốc lá nhãn hiệu Black Devil Ice; 50 bao thuốc lá nhãn hiệu Black Devil Café; 60 bao thuốc lá nhãn hiệu Black devil Special Flavor. Tổng cộng 4.480 Bao thuốc lá do nước ngoài sản xuất không dán tem theo quy định, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc được đựng trong các tùng tôn, caton nêu trên. Tại bản Kết luận giám định số: 1980/KLG Đ-PC09 ngày 11/3/2021 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 4480 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu các loại (Mỗi bao 20 điếu) thu giữ của bị cáo Vân A đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo Trần Thị Vân A khai: Khoảng tháng 12 năm 2020, bị cáo Vân A được một số đối tượng không rõ lai lịch mời chào lấy thuốc lá nhập lậu. Bị cáo Vân A đồng ý và đã lấy nhiều lần của các đối tượng trên (Mỗi lần lấy từ 10-70 bao) thuốc về bán kiếm lời. Số thuốc lá 4.480 bao Cơ quan điều tra kiểm tra thu giữ là của bị cáo Vân A mua lại của nhiều đối tượng không rõ lai lịch, địa chỉ.
Về các đối tượng đã bán thuốc lá cho bị cáo Vân A, do bị cáo Vân A không rõ lai lịch, địa chỉ nên không đủ căn cứ điều tra, làm rõ.
Bản cáo trạng số: 111/CT-VKS ngày 27 tháng 4 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Trần Thị Vân A về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2021/HS-ST ngày 21/06/2021 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Vân A phạm tội “ Mua bán hàng cấm”;.
Áp dụng: Điểm e khoản 2 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Vân A 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2021 đến ngày 13/4/2021. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 25/06/2021 bị cáo Trần Thị Vân A kháng cáo xin được giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Thị vân A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không có ý kiến gì về tội dA, điều luật mà cấp sơ thẩm áp dụng để xử phạt bị cáo A. Bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Bị cáo xin được giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.
Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của Bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Không Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị cáo vì không có tình tiết mới, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt. Xử phạt bị cáo Trần Thị Văn A 09 năm tù.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1.Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Vân A nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, được quy định tại các điều 331,332,333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Xét nội dung kháng cáo:
Căn cứ lời khai của bị cáo Trần Thị vân A tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 04/3/2021 tổ công tác Công an quận Hoàn Kiếm phối hợp cùng Công an phường Hàng Buồm phát hiện bị cáo Trần Thị Vân A đang có hành vi đóng gói, tập kết hàng hóa tại một căn hộ trong số nhà 42 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Công an đã tiến hành kiểm tra, xác định số hàng hóa bị cáo Vân A đang đóng gói là thuốc lá điếu. Tổng cộng 4.480 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu các loại (Mỗi bao 20 điếu). Theo Kết luận giám định toàn bộ số bao thuốc lá trên của bị cáo Vân A bị thu giữ là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Vân A về tội “Mua bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Xét yêu cầu kháng cáo của Bị cáo: Hành vi của bị cáo Trần Thị Vân A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Các cơ quan thông tin, báo chí luôn tuyên truyền, nghiêm cấm các hành vi buôn bán, sử dụng các loại thuốc lá. Hành vi của Bị cáo gây mất trật tự trị an, gây thiệt hại kinh tế cho Nhà nước. Vì vậy cần phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo Trần Thị Vân A.
Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm Bị cáo thực sự thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, mức án của Bị cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là quá nghiêm khắc chưa tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Vân A. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Vân A; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm về phần hình sự.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Vân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Vân A.
II.Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2021/HSST ngày 21/06/2021 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, giảm hình phạt cho bị cáo Trần Thị Vân A
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Vân A phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”;.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 190; Điểm s khoản Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Vân A 07 (Bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2021 đến ngày 13/4/2021.
III.Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị Vân A không phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
IV.Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 18/10/2021.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an quận Hoàn Kiếm; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - TAND quận Hoàn Kiếm; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm; - UBND phường Hàng Buồm; - Bị cáo, Lưu HS; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HOÀNG VĂN THÀNH |