- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn T phạm tội buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lục Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “ Buôn bán hàng cấm ”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/ 5/ 2022.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 69 /2022/HS-ST Ngày 31/ 10/ 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Cường, ông Nguyễn Tiến Chỉnh.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án
nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tùng- Kiểm sát viên
Ngày 31/ 10/ 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/HSST ngày 07/ 10/ 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/HSST - QĐ ngày 17/ 10/ 2022 đối với bị cáo: Lục Văn T- Sinh năm 1982. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam .( Có mặt ).
HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không.Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Bố đẻ: Lục Văn V, sinh năm 1956, mẹ đẻ: Từ Thị B (đã chết).Vợ: Chu Kiều N, sinh năm 1981.Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/ 5/ 2022 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nông Đức T1- Sinh năm 1994 ( Đề nghị xét xử vắng mặt )
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người có chứng kiến: Anh Lê Quang T2- Sinh năm 1982( Vắng mặt )
Người làm chứng: Ông Lục Văn L- Sinh năm 1962( Có mặt )
Cùng cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng ngày 10/ 5/ 2022 khi Lục VănT, sinh năm 1982, nơi ở: Thôn T, xã Đ, huyện L đang ở nhà thì có người đàn ông tên T2 gọi điện thoại hỏi mua 150 bánh pháo nổ, T đồng ý. Sau đó T vào trang mạng Facebook tìm mua pháo nổ và thỏa thuận chuyển tiền mặt qua xe buýt tuyến Bắc Giang- Sơn Động và nhắn tin số điện thoại của xe buýt để người này tự liên hệ nhận tiền. Ngày 11/5/2022, T chuyển số tiền 20.000.000 đồng và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, BKS 98B2-028.54 ra chỗ hẹn nhận 04 bao tơ dứa màu xanh bên trong đều là pháo nổ. Đến trưa ngày 12/ 5/ 2022, T tiếp tục gửi thêm số tiền 20.000.000 đồng theo cách cũ cho người bán pháo và nhận 04 bao tơ dứa màu xanh, bên trong là pháo nổ và chở về cất giấu cùng số pháo mua trước đó ở gian bếp của gia đình T.
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/ 5/ 2022, T điều khiển xe mô tô BKS 98B2-028.54 chở 08 bao pháo nổ từ nhà đến khu đất trống phía sau Nhà văn hóa thôn T cất giấu. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T ra khu vực Nhà văn hóa thôn đón T3 thì thấy T3 đi xe ô tô ta xi BKS 98A-236.06 của Nông Đức T1, sinh năm 1994 trú tại thôn Đ, xã B, huyện L.T và T3 thỏa thuận giá 150 bánh pháo nổ là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Khoảng 19 giờ 20 phút khi T và T3 đang chuẩn bị vận chuyển pháo nổ lên xe thì bị Công an huyện Lục Nam bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Lợi dụng sơ hở đối tượng T3 đã bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ gồm: 08 bao tơ dứa màu xanh bên trong mỗi bao đựng 20 khối hình trụ tròn màu hồng đỏ (Nghi pháo nổ), các bao tơ dứa được niêm phong ký hiệu "QT1"; "QT2"; "QT3"; "QT4"; "QT5"; "QT6"; "QT7"; "QT8".
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại Iphone 12 màu đen có số IMEL1: 353051112470220; IMEL2: 35305111176288; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát (BKS) 98B2-028.54, số khung: 0116692, số máy: 116700 của Lục Văn T; 01 xe ô tô nhãn hiệu Nissan, loại Nivina, BKS 98A-236.06 và 01 điện thoại Vivo, màu xanh của Nông Đức T1 .
Tại Bản kết luận giám định số 809/KL-KTHS ngày 16/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Trong 08 bao tơ dứa màu xanh có ký hiệu lần lượt "QT1"; "QT2"; "QT3"; "QT4"; "QT5"; "QT6"; "QT7"; "QT8" đã được niêm phong gửi giám định: 150 khối hình trụ đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 277,7kg .
Đối với đối tượng tên T3 là người hỏi mua pháo của T, quá trình điều tra Tuấn khai chỉ biết T3 ở khu vực M, xã T, huyện L; T1 chỉ biết tên T3 khi nói chuyện trên xe ta xi nhưng không rõ đặc điểm. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã T, huyện L nhưng không xác định được nên không đề cập xử lý.
Đối với Nông Đức T1 là lái xe ta xi, có mặt khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định ngày 13/5/2022, khi T1 đang đỗ xe ở khu vực Ngã tư T, thị trấn Đ thì có người đàn ông thuê chở đi thành phố B. Qua nói chuyện biết người này tên T3 nhưng không rõ năm sinh, địa chỉ cụ thể. Đến chiều cùng ngày, T3 bảo T1 lái xe đưa T3 đến thôn T rồi vào nhà T sau đó bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định, T1 không biết việc mua bán pháo nổ giữa T3 và T nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với ông Lục Văn L quá trình điều tra xác định khi xe ô tô của T1 đỗ để T1 xuống xe đã chiếu đèn vào nhà chói mắt nên ông L đi ra đề nghị tắt đèn thì Công an kiểm tra bắt quả tang, lập biên bản. Ông L không biết gì về vụ việc trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Suzuki, BKS 98B2-028.54 là do T mua lại của anh Lục Văn K, sinh năm 1993 (Người cùng thôn) vào cuối năm 2020 nhưng không có giấy tờ mua bán. Kết quả tra cứu đăng ký chiếc xe trên mang tên anh Phạm Xuân H, sinh năm 1981 trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, anh H khai chiếc xe trên anh đã bán cho cửa hàng xe máy tại huyện T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định anh K đang đi xuất khẩu lao động, ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh chủ sở hữu xe. Do vậy Cơ quan điều tra tách chiếc xe trên ra để tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ thì xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô nhãn hiệu Nissan, loại Nivina, BKS 98A-236.06 và 01 điện thoại Vivo, màu xanh thu giữ của Nông Đức T1 không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại tài sản cho anh T3. Còn 08 bao tơ dứa màu xanh bên trong đựng pháo nổ được niêm phong trong dải niêm phong "QT1"; "QT2"; "QT3"; "QT4"; "QT5"; "QT6"; "QT7"; "QT8" được hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại Iphone 12 màu đen Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Lục Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 06/ 10/ 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố Lục Văn T phạm tội “ Buôn bán hàng cấm” theo điểm c, khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, bị cáo khai nhận: Hồi 19 giờ 20 phút ngày 13/5/2022, tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, bị cáo đang có hành vi bán 277,7kg pháo nổ cho đối tượng tên T3 thì bị Công an huyện Lục Nam bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Về nguồn gốc số pháo thu giữ khi bắt quả tang, T mua của người trên mạng xã hội Facebook, T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể.
Ông L và anh T1 không biết bị cáo mua bán pháo.Chiếc điện thoại Iphone 12 màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 98B2-028.54, của T dùng liên lạc mua bán và vận chuyển pháo nổ. Bị cáo thừa nhận hành vi trên của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nông Đức T1 vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra trình bày : Ngày 13/5/2022, khi T1 đang đỗ xe ở khu vực Ngã tư T, thị trấn Đ thì có người đàn ông thuê chở đi thành phố B. Qua nói chuyện biết người này tên T3 nhưng không rõ năm sinh, địa chỉ cụ thể. Đến chiều cùng ngày, T3 bảo T1 lái xe đưa T3 đến thôn T rồi vào nhà T sau đó bị bắt quả tang. Anh T1 không biết việc mua bán pháo nổ trên.
Người chứng kiến là anh Lê Quang T2 vắng mặt, tại Cơ quan điều tra trình bày: Hồi 19 giờ 20 phút ngày 13/5/2022, anh T2 chứng kiến Công an huyện Lục Nam bắt quả tang Lục Văn T( Người cùng thôn T ) đang có hành vi bán pháo nổ cho người tên T3, thu giữ 08 bao dứa bên trong đựng khối hình trụ màu tròn nghi là pháo nổ. Khi bị bắt Lục Văn T khai nhận số bao tải dứa trên bên trong đều là pháo nổ.
Người làm chứng là ông Lục Văn L trình bày; Buổi tối ngày 13/5/2022 ông L đang ở nhà thì có xe ô tô chiếu đèn vào nhà chói mắt nên ông L đi ra đề nghị tắt đèn và bảo lái xe quay đầu xe thì đúng lúc Công an kiểm tra bắt quả tang, lập biên bản. Ông L không liên quan gì về vụ việc mua bán pháo nổ trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; đồng thời luận tội và đề nghị kết tội: Về tình tiết tăng nặng hình phạt: Không. Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt : Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lục Văn T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “ Buôn bán hàng cấm”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/ 5/ 2022.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng.
Ngoài ra còn đề xuất về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng : Bị cáo ăn năn hối cải,xin giảm hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố , phù hợp với lời khai của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về căn cứ xác định tội: Hồi 19 giờ 20 phút ngày 13/5/2022, tại thôn T, xã Đ, huyện L, Lục Văn T đang có hành vi bán 277,7kg pháo nổ cho đối tượng tên T3 thì bị Công an huyện Lục Nam bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự; Cáo trạng truy tố bị cáo cũng như luận tội và đề nghị kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần thiết phải có hình phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, bảo đảm tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án.
. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51của Bộ luật hình sự. Bị cáo là người lao động dân tộc thiểu số có nhân thân tốt, nhận thức pháp luật hạn chế, phạm tội có tính chất nhất thời, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; quá trình tố tụng có thái độ ăn năn, hối cải. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo buôn bán pháo nổ nhằm thu lợi nên cần phạt bổ sung bằng tiền.
. Về vật chứng và án phí: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : Toàn bộ vật chứng của vụ án gồm 08 bao tơ dứa màu xanh được niêm phong ký hiệu "QT1"; "QT2"; "QT3"; "QT4"; "QT5"; "QT6"; "QT7"; "QT8" bên trong chứa pháo nổ hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại Iphone 12 màu đen có số IMEL1: 353051112470220; IMEL2: 35305111176288 của Lục Văn T là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người đã bán pháo cho bị cáo và đối tượng tên Thắng do không xác minh được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là đúng quy định.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH :
1. Căn cứ điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự ; các Điều 293, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án :
2. Xử phạt bị cáo Lục Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “ Buôn bán hàng cấm ”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/ 5/ 2022.
Phạt bổ sung bị cáo Tuấn 25.000.000 đồng( Hai mươi lăm triệu đồng )
3.Vật chứng : Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng gồm 08 bao tơ dứa màu xanh được niêm phong ký hiệu "QT1"; "QT2"; "QT3"; "QT4"; "QT5"; "QT6"; "QT7"; "QT8" bên trong chứa pháo nổ hoàn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 màu đen có số IMEL1: 353051112470220; IMEL2: 35305111176288.
4.Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo,NLQ; - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Nam; - Công an huyện Lục Nam; - THADS huyện Lục Nam; - UBND xã Đ. - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Kiên |