vanban.org

Bản án 69/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 12 (Mƣờ i hai ) tháng cải tạo không giam giƣ̃ , đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam 11 (mƣờ i mô ̣t ) ngày tƣơng đƣơng 33 (ba mƣơi ba ) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ bị cáo còn phải chấp hành là 10 (mƣờ i) tháng 27 (hai mƣơi bảy) ngày. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 31 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số 69/2018/HSST
Ngày 26-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thi ̣ Nguyê ̣t Á nh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Tâm;

Bà Nguyễn Thu ̣y Vân Hà .

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2018/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 55/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q (tên gọi khác là T), sinh năm 1990 tại Thành phố H; thƣờng trú: Số16/5 đƣờng 12, khu phố 4, phƣờng T, quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị N, sinh năm 1967; bị cáo có 01 em sinh năm 1995; bị cáo có vợ tên Trần Thị Truyền D, sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 30/12/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

Ngườ i là m chứ ng:

1. Ông Đặng Minh T, sinh năm 1987; thƣờ ng trú : Tổ 17, ấp 3, xã B, huyện C, tỉnh Đ; chỗ ở: Số 76/4B tổ 3, khu phố 3, phƣờng B, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

2. Ông Cao Văn M, sinh năm 1961; thƣờng trú: Số 279/46 đƣờng A, phƣờng 5, Quận 11, Thành phố H; chỗ ở: Số 53/5B khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

3. Ông Nguyễn Cảnh T1, sinh năm 1986; thƣờng trú: Số 18/19, khu phố T, phƣờng D, tỉnh B; chỗ ở: Số 145/4C, khu phố 3, phƣờng B, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

4. Ông Cao Thanh S, sinh năm 1973; thƣờng trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh T; chỗ ở: Số 171/3/5 khu phố 3, phƣờng B, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

5. Ông Võ Văn N, sinh năm 1962; thƣờng trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh V; chỗ ở: Số 141/13 Quốc lộ 1A tổ 3 khu phố 5, phƣờng T, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

6. Ông Trƣơng Văn B, sinh năm 1970; thƣờng trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh T; chỗ ở: Tổ 11, khu phố 4, phƣờng T, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

7. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1981; thƣờng trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh A; chỗ ở: Số 141/21 Quốc lộ 1A, khu phố 5, phƣờng T, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

8. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1970; thƣờng trú: Số 13/3A, tổ 8, khu phố 4, phƣờng T, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

9. Ông Nguyễn Ánh H, sinh năm 1986; thƣờng trú: Tổ 8, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh B; chỗ ở: Đƣờng lô C, khu phố 3, phƣờng T, quận T, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

10. Ông Phan Công H1, sinh năm 1990; thƣờng trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh A; chỗ ở: Số D100, khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Cảnh T1 không có nghề nghiệp ổn định nên tổ chức cho ngƣời khác đá gà thắng thua bằng tiền để lấy tiền xâu, mỗi trận sẽ đƣợc 5% trên số tiền đá gà. Khoảng 09 giờ ngày 02/5/2017, Cảnh T1 mang theo 01 cái cân loại 5kg, 10 cuộn băng keo đi đến khu vƣờn tràm thuộc khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình D. Tại đây, Cảnh T1 đứng ra cáp kèo, làm trọng tài cho nhóm Nguyễn Văn Q, Cao Văn M, Nguyễn Ánh H, Phan Công H1, Đặng Minh T và tên Th (chƣa rõ nhân thân lai lịch) đá gà ăn thua bằng tiền với nhóm Trƣơng Văn B, Võ Văn N, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thành T2, Cao Thanh S với tỷ lệ 10 ăn 9, nhóm của B bỏ ra 10.000.000 đồng, còn nhóm của Q bỏ ra 9.000.000 đồng, Cảnh T1 lấy tiền xâu 500.000 đồng. Sau đó, Cảnh T1 đem cân để cân gà, đƣa băng keo để hai bên băng cựa gà; nhóm của B do N băng cựa sắt vào chân gà , nhóm của Q do chính Q băng cựa gà . Khi Nguyễn Cảnh T1 ra hiê ̣u thì N và Q cùng thả gà đá với nhau đƣợc khoảng 02 phút. Kết quả gà bên nhóm B thua nên B lấy của T3 số tiền 500.000 đồng và B bỏ ra số tiền 500.000 đồng đƣa cho Thành T2 để chung. Nhƣ̃ng ngƣờ i còn la ̣i lại đang chuẩn bị chung tiền thì Công an thị xã D kết hợp cùng Công an phƣờng D bắt quả tang H1, H, M, N, T3 cùng tang vật là 02 con gà, 01 cái cân loại 5kg, 10 cuộn băng keo. Riêng B, Minh T, Thành T2, Cảnh T1, Q, S và tên Th đã chạy thoát.

Ngày 04/5/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Cao Thanh S về hành vi Đánh bạc.

Các đối tƣợng Đặng Minh T, Trƣơng Văn B, Nguyễn Cảnh T1 và Nguyễn Thành T2 đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội trên.

Tang vật thu giữ: 02 con gà, 01 cái cân loại 5kg, 10 cuộn băng keo, 01 bộ cựa bằng sắt và 8.500.000 đồng.

Qua thu thập tài liệu, chứng cứ và kết quả điều tra, xác định Nguyễn Cảnh T1 đã có hành vi “Tổ chức đánh bạc”. Nguyễn Văn Q, Phan Công H1, Nguyễn Ánh H, Đặng Minh T, Cao Văn M, Trƣơng Văn B, Nguyễn Văn T3, Võ Văn N, Cao Thanh S, Nguyễn Thành T2 và tên Th (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đã có hành vi “Đánh bạc”, cụ thể nhƣ sau:

Nguyễn Cảnh T1 mang theo cân, băng keo và làm trọng tài để tổ chức cho các con bạc chơi đá gà ăn thua bằng tiền để thu tiền xâu với tỷ lệ 5% trên số tiền đá gà (số tiền 500.000 đồng), Cảnh T1 chƣa thu đƣợc tiền xâu, khi lực lƣợng Công an bắt giữ đã chạy thoát.

Nhóm của Q tham gia đánh bạc dƣới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền gồm: Q, Minh T, M, H1, H, Th cụ thể nhƣ sau:

- Nguyễn Văn Q sử dụng 7.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng chƣa lấy đƣợc tiền thì lực lƣợng Công an bắt giữ, Q chạy thoát.

- Phan Công H1 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng chƣa lấy đƣợc tiền thì bị lực lƣợng Công an bắt giữ.

- Nguyễn Ánh H sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng chƣa lấy đƣợc tiền thì lực lƣợng Công an bắt giữ.

- Đặng Minh T sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng chƣa lấy đƣợc tiền thì lực lƣợng Công an bắt giữ, T chạy thoát.

- Cao Văn M sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng chƣa lấy đƣợc tiền thì lực lƣợng Công an bắt giữ.

- Th (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng chƣa lấy đƣợc tiền thì lực lƣợng Công an bắt giữ, Th bỏ chạy thoát.

Nhóm của Trƣơng Văn B tham gia đánh bạc dƣới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền gồm B, T3, N, S và Thành T2 cụ thể nhƣ sau:

- Trƣơng Văn B sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua B lấy trong túi 500.000 đồng và lấy của T3 500.000 đồng, B đƣa cho Thành T2 để chung tiền thì lực lƣợng Công an bắt giữ, B chạy thoát.

- Cao Thanh S mang theo và sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua chƣa chung thì lực lƣợng Công an bắt giữ, S chạy thoát.

- Võ Văn N sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua chƣa chung thì lực lƣợng Công an bắt giữ.

- Nguyễn Thành T2 sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua Thành T2 đã lấy từ B số tiền 1.000.000 đồng để chung thì lực lƣợng Công an bắt giữ, T2 bỏ chạy thoát.

- Nguyễn Văn T3 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua đã đƣa số tiền 500.000 đồng cho B để chung thì lực lƣợng Công an bắt giữ.

Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng đánh bạc tổng cô ̣ng là: 19.000.000 đồng.

Ngày 02/5/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; Ngày 11/5/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Cảnh T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” và Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Q, Cao Văn M, Nguyễn Ánh H, Phan Công H1, Nguyễn Văn T3, Đặng Minh T, Võ Văn N, Cao Thanh S, Nguyễn Thành T2, Trƣơng Văn B về tội “Đánh bạc”.

Ngày 23/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn Q. Đến ngày 20/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã bắt đƣợc Nguyễn Văn Q để điều tra.

Đối với đối tƣợng tên Th hiện chƣa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại di động do Nguyễn Văn Q sử dụng vào việc phạm tội, hiện quốc đã làm mất không thể thu hồi đƣợc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề cập xử lý.

Đối với 7.000.000 đồng do Nguyễn Văn Q sử dụng để đánh bạc, đề nghị Tòa án tuyên buộc Q phải giao nộp để sung quỹ nhà nƣớc.

Ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An , tỉnh Bình Dƣơng đã xét xử Nguyễn Cảnh T1 về tội “Tổ chức đánh bạc”; Cao Văn M, Nguyễn Ánh H, Phan Công H1, Nguyễn Văn T3, Đặng Minh T, Võ Văn N, Cao Thanh S, Nguyễn Thành T2,Trƣơng Văn B về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 270/2017/HSST.

Về xử lý vật chứng: Đã đƣợc giải quyết tại Bản án số 270/2017/HSST ngày 29/9/2017, do đó Tòa án không xem xét.

Bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 248; Điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 31; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giƣ̃ và phạt bổ sung bị cáo tƣ̀ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tạm giữ bị cáo sau đó thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú là đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; những ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 09 giờ ngày 02/5/2017, tại vƣờn tràm thuộc khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B, Nguyễn Cảnh T1 đứng ra làm trọng tài tổ chức cho nhóm Nguyễn Văn Q, Cao Văn M, Nguyễn Ánh H, Phan Công H1, Đặng Minh T và tên Th (chƣa rõ nhân thân lai lịch) đá gà băng cựa sắt thắng thua bằng tiền với nhóm Trƣơng Văn B, Võ Văn N, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thành T2, Cao Thanh S thì bị Công an phƣờng Dĩ An bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đánh bạc dƣới hình thức đá gà băng cựa sắt thắng thua bằng tiền với số tiền 19.000.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Văn Q đánh bạc với số tiền là 7.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999. Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc dƣới hình thức đá gà nhằm tƣớc đoạt tiền của nhau là vi phạm pháp luật bị Nhà nƣớc nghiêm cấm, nhƣng vì tham lam tƣ lợi bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo Q tham gia đá gà với vai trò là ngƣời chuẩn bị tích cực với hành vi băng cựa cho con gà của nhóm mình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo l à ngƣời có nhân thân tốt thể hiện có việc làm ổn định, chƣa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, cũng cần xem xét việc bị cáo không ra đầu thú sau khi chạy thoát và bị truy nã gây khó khăn cho công tác điều tra của các cơ quan tiến hành tố tu ̣ng. Đồng thời, bị cáo là ngƣời bỏ ra số tiền lớn nhất để tham gia đánh bạc.

Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy vì vậy cần áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mƣơi triệu đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp du ̣ng mƣ́ c hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bị cáo

̀ để phục vụ công tác giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Xét bị cáo là ngƣời lao động làm thuê , thu nhâ ̣p không ổn đi ̣nh nên Hô ̣i đồng xét xử không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã xét xử Nguyễn Cảnh T1 về tội Tổ chức đánh bạc; Cao Văn M, Nguyễn Ánh H, Phan Công H1, Nguyễn Văn T3, Đặng Minh T, Võ Văn N, Cao Thanh S, Nguyễn Thành T2,Trƣơng Văn B về tội Đánh bạc theo Bản án số 270/2017/HSST.

Về xử lý vật chứng: Đã đƣợc giải quyết tại Bản án số 270/2017/HSST ngày 29/9/2017, do đó Tòa án không xem xét. Về biê ̣n pháp tƣ pháp: Buô ̣c bi ̣ cáo phải nô ̣p la ̣i số tiền 7.000.000 đồng do bi ̣ cáo dùng vào viê ̣c pha ̣m tô ̣i để sung quy nhã

̀ nƣớ c .

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 31; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 12 (Mƣờ i hai ) tháng cải tạo không giam giƣ̃ , đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam 11 (mƣờ i mô ̣t ) ngày tƣơng đƣơng 33 (ba mƣơi ba ) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ bị cáo còn phải chấp hành là 10 (mƣờ i) tháng 27 (hai mƣơi bảy) ngày.

Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND phƣờng T, quâ ̣n T, thành phố H nhận đƣợc bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q về cho UBND phƣờng T, quâ ̣n T, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời hạn cải tạo không giam giữ.

Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 75 Luật thi hành án hình sự.

- Xƣ̉ pha ̣t bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Q số tiền 7.000.000 (Bảy triệu) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

2. Về biê ̣n pháp tƣ pháp:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣̀

năm 1999; điểm a khoản 1 Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sƣ̣̀

năm 2003.

Buô ̣c bi ̣ cáo Nguyễn Văn Q nô ̣p la ̣i số tiền 7.000.000 (Bảy triệu) đồng sung quy ̃ Nhà nƣớc.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án.

Cỡ chữ