- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Thị Thu Tr - Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Thu Tr phạm tội "Buôn bán hàng cấm";
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN D THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 69/2018/HS-ST Ngày: 26/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN D THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân D:
- Ông Lý Vĩnh Thành;
- Bà Nguyễn Phan Thùy Trang.
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân D
thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân D thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân D thành phố Châu Đốc, Tòa án nhân D thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 đối với:
Bị cáo: Thạch Thị Thu Tr, sinh năm 1970; nơi sinh: Cao Lãnh – Đồng Tháp; quê quán: Cao Lãnh – Đồng Tháp; nơi cư trú (đăng ký hộ khẩu thường trú): tổ 23, khóm G, phường H, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: tổ 23, ấp T, thị trấn B, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: nữ; D tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Thạch Kh (sinh năm 1929, đã chết) và bà Phan Thị G (sinh năm 1932, đã chết); chồng: Đặng Đức B (sinh năm 1974, đã chết năm 2010); con: Đặng Thị Trâm A(sinh năm 2009).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2018 đến ngày 26/6/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
+ Trần Thị Mỹ L; vắng mặt.
+ Nguyễn Văn D; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Thạch Thị Thu Tr bị Viện Kiểm sát nhân D thành phố Châu Đốc truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 17/6/2018, lực lượng Công an phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trên đường tuần tra đến khu vực tổ 20, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, phát hiện, bắt quả tang Thạch Thị Thu Tr có hành vi vận chuyển 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại. Tr khai nhận, số thuốc lá điếu nhập lậu mua của người nam tên E (không rõ họ, địa chỉ) tại thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang, vận chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh để bán lại thu lợi. Lực lượng công an đã lập biên bản và thu giữ vật chứng, chuyển cơ quan điều tra, khởi tố, tạm giam, điều tra, xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- Thuốc lá điếu nhập lậu 1.600, bao gồm: 1.000 bao nhãn hiệu CANYON; 500 bao nhãn hiệu ZOUK; 100 bao nhãn hiệu LA; 01 điện thoại di động hiệu VEGA, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, màu vàng và 149.000 đồng.
- 01 (một) Giấy chứng minh nhân D số 340679216, cấp ngày 22/8/2013 (bản chính), đã quyết định xử lý trả lại cho bị cáo Tr.
Ngày 25/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Châu Đốc ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với bị cáo Thạch Thị Thu Tr.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Châu Đốc, bị cáo Thạch Thị Thu Tr khai nhận toàn bộ hành vi vận chuyển, mua bán thuốc lá điếu nhập lậu như nội dung cáo trạng. Trong số 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu, có: 1.000 bao nhãn hiệu CANYON; 500 bao nhãn hiệu ZOUK; 100 bao nhãn hiệu LA.
Người chứng kiến Trần Thị Mỹ L và Nguyễn Văn D khai: Vào khoảng 10 giờ ngày 17/6/2018, khi L đang bán tạp hóa trước nhà, D đang đậu xe Honda để chạy xe ôm trước cổng bến xe khách Châu Đốc thuộc tổ 20, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc thì nhìn thấy Công an phường Vĩnh Mỹ đến kiểm tra bị cáo Tr cùng 04 thùng catton, phát hiện bên trong 04 thùng catton có chứa thuốc lá điếu nhập lậu. Lực lượng Công an mời bị cáo Tr, L, D và vận chuyển 04 thùng catton chứa thuốc lá điếu về trụ sở Công an phường Vĩnh Mỹ làm việc. Tại trụ sở, lực lượng công an kiểm tra trong 04 thùng catton có 1.600 bao thuốc lá, trong đó có: 1.000 bao nhãn hiệu CANYON; 500 bao nhãn hiệu ZOUK; 100 bao nhãn hiệu LA; bị cáo Tr khai, số thuốc lá điếu nêu trên là bị cáo mua để vận chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh bán lại kiếm lời. Công an lập biên bản thu giữ vật chứng.
Theo biên bản xác định nguồn gốc, xuất xứ thuốc lá bị tạm giữ ngày 26/6/2018, Đội Quản lý Thị trường số 4 thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Châu Đốc xác định, 1.000 bao nhãn hiệu CANYON, 500 bao nhãn hiệu ZOUK, 100 bao nhãn hiệu LA là thuốc lá điếu nhập lậu, được sản xuất ở nước ngoài; theo Công văn số 167/XNKTL-PTKD ngày 13/7/2018, Công ty Xuất nhập khẩu thuốc lá điếu (được tổng công ty Thuốc lá Việt Nam ủy quyền là đơn vị đầu mối duy nhất được phép nhập khẩu thuốc lá điếu và xì gà tại Việt Nam) xác định, Công ty Xuất nhập khẩu thuốc lá điếu chưa nhập khẩu bất cứ lô hàng thuốc lá điếu nào đối với các nhãn hiệu CANYON, ZOUK, LA.
Bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-CĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân D thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Thạch Thị Thu Tr về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Tr khai nhận, khi bị cáo đang ở thành phố Hồ Chí Minh xin việc thì có người phụ nữ tên Th (không biết họ, địa chỉ, số điện thoại cụ thể) giới thiệu bị cáo đến xã Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang gặp người nam tên E mua thuốc lá điếu nhập lậu bán lại cho Th kiếm lời. Khoảng 07 giờ ngày 16/6/2018, bị cáo đến xã Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang gặp E và trao đổi, thỏa thuận mua 1.500 bao với giá 13.500.000 đồng. Sau đó, E giao cho bị cáo 04 thùng catton, trong đó chứa 1.500 bao thuốc lá mà bị cáo đã đặt mua và 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu L.A. Đến khoảng 10 giờ ngày 17/6/2018, bị cáo vận chuyển 04 thùng catton có chứa 1.600 bao thuốc lá đến trước cổng bến xe khách Châu Đốc thuộc tổ 20, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc đến đón xe vận chuyển về thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an phường Vĩnh Mỹ bắt quả tang và tịch thu vật chứng. Ngoài 1.600 bao thuốc lá bị thu giữ, còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu NOKIA; 01 điện thoại di động hiệu VEGA, cả 02 điện thoại đều dùng để liên lạc cá nhân, không dùng để mua bán thuốc lá điếu nhập lậu; 01 chứng minh nhân D của bị cáo (đã giao trả cho bị cáo); số tiền 149.000 đồng là số tiền của bị cáo mang theo để tiêu xài cá nhân, không dùng vào việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu. Đối với người nam tên E bị cáo không biết họ, địa chỉ cụ thể.
Hội đồng xét xử công bố lời khai người chứng kiến Trần Thị Mỹ L và Nguyễn Văn D (vắng mặt tại phiên tòa).
Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên khẳng định bị cáo Thạch Thị Thu Tr có hành vi buôn bán thuốc lá ngoại nhập lậu với số lượng 1.600 bao. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông nên đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, được quy định tại quy định điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thuộc thành phần lao động; quá trình điều tra thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án; gia đình có mẹ là bà Phan Thi Giải được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất.
Từ các căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam (04 tháng 12 ngày).
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 1.000 bao nhãn hiệu CANYON, 500 bao nhãn hiệu ZOUK, 100 bao nhãn hiệu LA; giao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu VEGA màu đen, đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 149.000 đồng.
Đối với đối tượng tên Th, E do không rõ họ, tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Thạch Thị Thu Tr bị Công an nhân D thành phố Châu Đốc khởi tố về hành vi “Buôn bán hàng cấm” tại khu vực cổng bến xe khách Châu Đốc thuộc tổ 20, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân D thành phố Châu Đốc.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an nhân D thành phố Châu Đốc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân D thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.
Sự vắng mặt của người chứng kiến Trần Thị Mỹ L và Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp L nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người chứng kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về nội dung:
Hành vi phạm tội:
Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, ngày 16/6/2018, bị cáo có hành vi mua 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu của người nam tên E (không biết họ, địa chỉ cụ thể), bán lại kiếm lời. Đến khoảng 10 giờ ngày 17/6/2018, bị cáo vận chuyển 1.600 bao thuốc lá đến cổng bến xe Châu Đốc thuộc tổ 20, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc để đón xe vận chuyển thuốc lá về thành phố Hồ Chí Minh bán lại thì bị lực lượng công an bắt quả tang.
Như vậy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17/6/2018 Công an phường Vĩnh Mỹ lập; phù hợp với lời khai của người chứng kiến Trần Thị Mỹ L và Nguyễn Văn D về việc chứng kiến lực lượng công an phường Vĩnh Mỹ bắt quả tang bị cáo đang tìm xe vận chuyển 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại về thành phố Hồ Chí Minh bán. Tại trụ sở công an phường Vĩnh Mỹ, công an lập biên bản kiểm tra, tịch thu 1.600 bao thuốc lá nói trên; phù hợp với Biên bản xác định nguồn gốc, xuất xứ thuốc lá bị tạm giữ ngày 26/6/2018 theo Công văn số 167/XNKTL-PTKD ngày 13/7/2018, của Công ty Xuất nhập khẩu thuốc lá điếu.
Từ các chứng cứ nêu trên, có căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi mua 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có: 1.000 bao nhãn hiệu CANYON; 500 bao nhãn hiệu ZOUK; 100 bao nhãn hiệu LA với mục đích đE về thành phố Hồ Chí Minh bán lại kiếm lời.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi buôn bán thuốc lá ngoại nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với số lượng 1.600 bao. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với thuốc lá điếu nhập lậu. Do đó, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân D thành phố Châu Đốc đã truy tố.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ (bà Phan Thi Giải) được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của D tộc; bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hình phạt:
Về hình phạt chính: Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xét áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có việc làm. Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Thuốc lá 1.600 bao, trong đó: 1.000 bao thuốc lá hiệu CANYO, 500 bao thuốc lá hiệu ZOUK, 100 bao thuốc lá hiệu LA là thuốc lá điếu nhập lậu, cấm tàng trữ. Xét tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VEGA màu đen, đã qua sử dụng, số thuê bao: 0989563451, IMEI: 356164051207730; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu vàng, đã qua sử dụng, số thuê bao: 01698112682. Số IMEI: 355714/02/568477/7, bị mất phím nhiều hướng; số tiền 149.000 đồng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xét giao trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) giấy chứng minh nhân D số 340679216 cấp ngày 22/8/2013, nơi cấp: Đồng Tháp, là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo là đúng quy định pháp luật.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2018, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án D sự thành phố Châu Đốc).
Các vấn đề khác: Ngoài lời khai của bị cáo, không có cơ sở xác định bị cáo mua 1.600 bao thuốc điếu nhập lậu của người nam tên E để bán lại cho người phụ nữ tên Th nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
(Theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Thu Tr phạm tội "Buôn bán hàng cấm";
Xử phạt: Thạch Thị Thu Tr: 04 (bốn) tháng 12 (mười hai) ngày tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo Thạch Thị Thu Tr được tính kể từ ngày tạm giữ 17/6/2018 (mười bảy tháng sáu năm hai nghìn không trăm mười tám).
Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tuyên bố trả tự do ngay cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, điểm a khoản 2, điềm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy thuốc lá điếu nhập lậu 1.600 bao, trong đó: 1.000 bao thuốc lá hiệu CANYO, 500 bao thuốc lá hiệu ZOUK, 100 bao thuốc lá hiệu LA.
- Giao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu VEGA màu đen, đã qua sử dụng, số thuê bao: 0989563451, IMEI: 356164051207730; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu vàng, đã qua sử dụng, số thuê bao: 01698112682. Số IMEI: 355714/02/568477/7, bị mất phím nhiều hướng; số tiền 149.000 đồng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2018, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án D sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án;
Bị cáo Thạch Thị Thu Tr phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân D tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án D sự thì người được thi hành án D sự, người phải thi hành án D sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án D sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án D sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án nhân D tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS thành phố (1);s - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Bích Thủy |