vanban.org

Bản án 69/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/ Bị cáo Bùi Hoàng Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

/ Bị cáo Đinh Văn B 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Buôn bán hành cấm”. Giao bị cáo Đinh Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng Đ cùng đồng phạm phạm tội "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? / Bị cáo Bùi Hoàng Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2018/HS-PT
Ngày 29 - 11 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hùng Long và bà Vũ Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2018/HSPT ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Bùi Hoàng Đ và Đinh Văn B; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HSST ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Bùi Hoàng Đ, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm 5, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Vũ Thị H; vợ Phạm Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/02/2018 đến ngày 12/02/2018 được tại ngoại, có mặt.

2. Đinh Văn B, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm 5, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); vợ Nguyễn Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/02/2018 đến ngày 12/02/2018 được tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 06/02/2018, Đinh Văn B điều khiển xe ô tô tải BKS 90C - 073… chở khung tranh từ nhà đến tỉnh Quảng Bình để bán. Khi đi B rủ Bùi Hoàng Đ đi cùng. Đến khoảng 16 giờ ngày 08/02/2018, B điều khiển xe ô tô đến một cửa hàng của khách ở gần cầu Chánh Hòa, tỉnh Quảng Bình để lấy tiền nợ đã bán hàng trước đó. Đến nơi, B và Đ gặp người đàn ông khoảng 40 tuổi (chủ nhà), Đ và người chủ nhà ngồi ở bàn uống nước, sau đó Đ hỏi chủ nhà “Anh có pháo không?”, người chủ nhà nói “Có pháo bệ, lấy mấy bệ”, Đ hỏi “Anh bán bao nhiêu một bệ”, người chủ nhà nói “Tám trăm nghìn một bệ”, Đ nói “Anh để cho em 05 bệ”. Người chủ nhà đi lên tầng 2 mang xuống 01 bao tải dứa màu cam để ở mặt bàn, B nói với chủ nhà “Anh nợ tiền hàng của em là ba triệu rưỡi”, người chủ nhà nói “Ừ”. Đ nói với B “Anh cho em vay 04 triệu em mua 05 bệ pháo”, người chủ nhà nói “Vậy đưa cho anh thêm năm trăm là xong, vì anh nợ chú ba triệu rưỡi”. Đinh Văn B lấy 500.000đ đưa cho người chủ nhà rồi cầm bao tải pháo cùng với Đ đi ra ô tô, B để bao tải pháo ở cabin xe, Đ xuống xe quay vào trong nhà lấy bao thuốc lá để quên thì người chủ nhà nói với Đ “Anh cho mày mấy quả về đốt thử”, Đ nói “Vâng” rồi cùng người chủ nhà đi lên tầng 2, người chủ nhà lấy trong thùng catton một hộp pháo đã bóc lớp giấy bên ngoài đưa cho Đ, Đ mang lên xe để pháo vào bao tải. B điều khiển xe ô tô chở Đ và số pháo trên đi về nghỉ qua đêm ở Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đến sáng ngày 09/02/2018 tiếp tục điều khiển xe để về nhà, B điều khiển xe đến ngã tư đèn đỏ giao nhau giữa đường ĐT494 và QL1A thuộc địa phận xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam thì có người tên T gọi điện cho Đ và nói “Mày đã về chưa”, Đ nói “Tao đang ở đường tránh”, T nói “Có hàng không”, Đ nói “Có”, T nói “Để cho tao một bệ, tao chờ ở ngã tư đường tránh xã T”, Đ nói “Ừ, chờ tao khoảng 10 phút”. Khi đến ngã tư T, Đ nhìn thấy T đứng đợi nên bảo B “Anh dừng xe em bán cho thằng kia bệ pháo”, B dừng xe ven đường, Đ mở bao tải lấy ra 01 bệ pháo đưa quan cửa kính và nói “Một triệu”, T cầm pháo rồi đưa cho Đ 01 triệu đồng. Sau đó, Đ đưa cho B 01 triệu và nói “Em trả anh 01 triệu, còn nợ 03 triệu”. B cầm tiền rồi điều khiển xe ô tô chở Đ về xóm 4, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam thì bị Công an huyện K bắt quả tang. Thu giữ 01 bao tải màu cam bên trong có 05 hộp hình trụ trong đó có 04 hộp còn nguyên vẹn cùng toàn bộ vật chứng liên quan, sau đó dẫn giải Đinh Văn B và Bùi Hoàng Đ về UBND xã V, huyện K lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO - K165, BKS 90C-073…, thu giữ của Bùi Hoàng Đ 01 điện thoại Samsung màu vàng, Đinh văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen và số tiền 5.450.000đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở và đồ vật của Bùi Hoàng Đ và Đinh Văn B không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Bản kết luận giám định số 171/KTHS ngày 10/02/2018 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu ký hiệu A là pháo nổ, có đặc tính của pháo nổ, chứa thuốc pháo và khí đốt có gây tiếng nổ, tổng khối lượng là 6,681kg”.

Quá trình điều tra anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1981 (xóm 4, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam) có đơn đề nghị xin chiếc xe ô tô BKS 90C-073… với lý do anh đã mua của Đinh Văn B sau đó cho B mượn để làm ăn nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cho anh Đ. Quá trình truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện K ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung về việc trả chiếc xe ô tô là phương tiện phạm tội cho anh Đ không có căn cứ. Ngày 13/02/2018, Cơ quan điều tra Công an huyện K ra quyết định hủy bỏ quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ và thu hồi chiếc xe ô tô BKS 90C - 073….

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20 ngày 11/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: “Chiếc xe ô tô BKS 90C - 073…. tại thời điểm định giá có giá trị 290.000.000 đồng”.

Về nguồn gốc số pháo nổ: Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B khai đã mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi ở cửa hàng chuyên áo cưới, đóng khung tranh, ảnh Phương Đông gần cầu Chánh Hòa, tỉnh Quảng Bình. Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Quảng Bình điều tra, xác minh làm rõ. Kết quả điều tra xác định chủ cửa hàng là anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1980 ở Thúc Tự Đông, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Qua điều tra Nguyễn Đức N khai không quen biết Đinh Văn B, không bán pháo cho Bùi Hoàng Đ. Bản thân B và Đ không biết rõ họ tên và đặc điểm nhận dạng của người bán pháo, ngoài lời khai của Đ và B, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh người bán pháo cho Bùi Hoàng Đ. Vì vậy, không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người thanh niên tên T đã mua 01 hộp pháo của Đ với giá 01 triệu đồng, Đ không biết rõ, họ tên địa chỉ cũng như đặc điểm nhận dạng của người đó nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với anh Trần Văn T, quá trình điều tra anh T khai nhận có hẹn mua pháo của Bùi Hoàng Đ nhưng anh T chưa mua nên không có căn cứ để xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 áp dụng đối với bị cáo Đ), Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Hoàng Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù; bị cáo Đinh Văn B 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/02/2018 đến ngày 12/02/2018). Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định, ngày 03/10/2018, bị cáo Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; riêng bị cáo Đinh Văn B kháng cáo đề nghị xem xét giảm số tiền tịch thu 1/2 giá trị xe ô tô. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ, B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo; bị cáo Đinh Văn B rút yêu cầu kháng cáo về xử lý vật chứng đối với 1/2 giá trị xe ô tô bị tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Văn B về phần vật chứng là 1/2 giá trị xe ô tô. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 21/9/2018 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam; đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Hoàng Đ 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng; bị cáo Đinh Văn B 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng, đều về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung đơn kháng cáo: Bị cáo Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B kháng cáo trong thời hạn luận định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp lệ cần được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h ngày 09/02/2018, tại đường liên thôn thuộc xóm 4, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam, Đinh Văn B điều khiển xe ô tô BKS 90C - 073… chở Bùi Hoàng Đ cùng một bao tải màu cam bên trong có 05 (năm) hộp pháo nổ, tổng khối lượng 6,681kg thì bị phát hiện bắt quả tang. Về nguồn gốc số pháo trên là do Đinh Văn B cho Bùi Hoàng Đ vay tiền để mua của một người đàn ông không biết tên ở gần cầu Chánh Hòa, tỉnh Quảng Bình về bán lại để kiếm lời. Với hành vi trên, bị cáo Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Đối với yêu cầu rút kháng cáo về xử lý vật chứng là 1/2 giá trị xe ô tô BKS 90C - 073…. của bị cáo Đinh Văn B là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo về phần vật chứng đối với bị cáo Đinh Văn B.

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo cấp phúc thẩm thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm; pháo nổ là một trong các loại hàng hóa mà Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán hàng cấm nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đ có thời gian tham gia quân đội được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình xét xử phúc thẩm, các bị cáo xuất trình đơn nêu hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ; bị cáo Đ có bố vợ (Phạm Văn C) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang; bị cáo Đinh Văn B có ông ngoại (Nguyễn Văn C) là liệt sĩ, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới nhưng mức hình phạt 24 tháng đối với Đ, 18 tháng đối với B mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng tính chất, mức độ phạm tội do các bị cáo đã gây ra. Vì vậy, kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đ, B không được cấp phúc thẩm chấp nhận.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tình tiết tăng năng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo một lần nữa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn; các bị cáo nhất thời phạm tội, bị cáo Đ chỉ vì hám lợi, còn bị cáo B do không hiểu biết pháp luật nên đã đồng phạm, bản thân B không được lợi từ việc mua bán pháo của Đ. Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình tại ngoại chấp hành tốt nghĩa vụ công dân, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng đủ giáo dục, cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, tạo điều kiện cho các bị cáo lao động phụ giúp gia đình mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Hoàng Đ và Đinh Văn B.

Án phí: Do yêu cầu kháng cáo được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Văn B về việc xử lý vật chứng là 1/2 giá trị xe ô tô BKS 90C - 073….

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng của bị cáo Bùi Hoàng Đ, Đinh Văn B; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 21/9/2018 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:

+/ Bị cáo Bùi Hoàng Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Buôn bán hành cấm”. Giao bị cáo Bùi Hoàng Đ cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+/ Bị cáo Đinh Văn B 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Buôn bán hành cấm”. Giao bị cáo Đinh Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Bùi Hoàng Đ và Đinh Văn B không phải nộp.

4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ