vanban.org

Bản án 689/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2025. Tịch thu tiêu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 689/2026/HS-ST
Ngày: 15/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lượng

2. Bà Hồ Thị Thanh Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đường Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 441/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 644/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1995; giới tính: Nam; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: D Đường H, Khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 22/12 đường D, (ống nước thô cũ), khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; con ông Trần Văn C và bà Tạ Thị Ngọc L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 07/01/2015, Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Hủy hoại tài sản”, số tiền 3.500.000 đồng; bị cáo nộp phạt ngày 08/01/2015;

- Ngày 15/10/2015, Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Xâm phạm sức khỏe đến người khác”, số tiền 2.500.000 đồng;

- Ngày 17/9/2020, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 255/2020/HS-ST; Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 13/5/2022; nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/11/2020.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 18/7/2025 (có mặt).

- Bị hại: Chị Vũ Thị Hồng T1, sinh năm 1990

Địa chỉ: Nhà không số, đường L, khu phố C, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 17 giờ 00 ngày 02/7/2025, Trần Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh biển số 52X3 - 1452 của cha ruột là ông Trần Văn C lưu thông trên các tuyến đường thuộc phường L, để tìm tài sản sơ hở cướp giật. Khi đến trước cổng Đại học Kinh tế Luật Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ F đường Đ, Khu phố F, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, T nhìn thấy chị Vũ Thị Hồng T1 (sinh năm 1990) đang đứng trên vỉa hè, sát lề đường, trên tay có cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, T điều khiển xe theo hướng ngược chiều từ Cầu vượt L về Trường Đại học N, áp sát bên phải chị T1, dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại di động của chị T1, rồi tăng ga bỏ chạy ngược chiều về hướng Trường Đại học N. Chị T1 phát hiện tri hô “Cướp, cướp” và đuổi theo nhưng không kịp nên đên Công an phường L trình báo. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, trên đường chạy về, T vứt bỏ ốp lưng điện thoại, rồi mang điện thoại về nhà trọ số B đường Ố, khu phố T, phường Đ, Thành phô H, cất giấu. Đến ngày 03/7/2025, T bị Cơ quan Công an đưa về trụ sở làm việc.

Tiến hành kiểm tra ma túy, Trần Văn T dương tính với chất Methamphetamine. T khai nhận sáng ngày 01/7/2025, T gọi điện thoại cho Q (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0972.733.073, xin một ít ma túy đá để sử dụng, Q đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, T đến Khách sạn M, số C N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Q, Q đi ra đưa cho T 01 bịch nylon màu đen, bên trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 túi zip bên trong chứa ma túy đá. T cầm bộ dụng cụ và ma túy về nhà trọ số B đường Ố, khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T rủ Nguyễn Minh H (sinh năm 1996) đến nhà trọ của T để cùng sử dụng ma túy. Khi H đến, T và H lên gác, T đổ ma túy vào nỏ dùng hột quẹt đốt và hút khoảng 02 hơi. T sử dụng xong, T dùng tay trái cầm nỏ đưa ống hút cho H ngậm, tay phải cầm hột quẹt đốt cho H hút 02 hơi thì hết ma túy. Sau đó, cả hai nằm ngủ. Đến sáng ngày 02/7/2025, T mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt bỏ tại bãi đất trống trước Công ty TNHH MTV S, số C đường Ố, khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra đã tiến hành đưa Nguyễn Minh H về làm việc, tiến hành kiểm tra ma túy, H dương tính với chất Methamphetamine. H khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 11/02/2026 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân phường L, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy MGDE3 VN/A; số Sê-ri: F2LFGNWQ0D55, màu vàng, dung lượng 256GB, trị giá 9.300.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Wave, màu xanh, đen, biển số: 52X3-1452. Qua xác minh do ông Trần Văn C đứng tên sở hữu. Ông C không biết bị cáo Trần Văn T sử dụng xe đi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H đã trả lại xe mô tô cho ông C;

- 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy: MGDE3VN/A; sô Sê-ri: F2LFGNWQ0D55, màu vàng, dung lượng: 256GB. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H đã trả lại cho chị T1;

- 01 Điện thoại Nokia, màu: xám đen; 01 mũ bảo hiểm màu xám; 01 áo thun trơn màu xám; 01 quần sọc màu vàng; 01 đôi dép màu đen;

- 03 đoạn video ghi lại nội dung trước quầy lễ tân khách sạn;

- 01 USB ghi lại hình ảnh T thực hiện hành vi cướp giật tài sản;

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Vũ Thị Hồng T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

[2] Bản Cáo trạng số 663/CT-VKSKV2 ngày 25/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

[3] Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; Khoản 1 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 08 năm đến 09 năm tù;

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì và bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình và tái hòa nhập cộng động xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Ngày 02/7/2025, Trần Văn T có hành vi sử dụng xe mô tô nhanh chóng bất ngờ giật lấy điện thoại Iphone 12 Pro Max trị giá 9.300.000 đồng của chị Vũ Thị Hồng T1, tại trước cổng Đại học Kinh tế Luật Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ F đường Đ, Khu phố F, phường L, Thành phố H. Ngoài ra, ngày 01/7/2025, Trần Văn T còn có hành vi cung cấp ma túy, cung cấp địa điểm cho Nguyễn Minh H sử dụng chung tại nhà của T, số B đường Ố, khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm d Khoản 2 Điều 171 và Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Hành vi của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Tính nguy hiểm của hành vi bị cáo còn thể hiện việc bị cáo sử dụng xe mô tô lưu thông trên các tuyến đường để quan sát, tiếp cận người bị hại tham gia giao thông để cướp giật rồi nhanh chống tẩu thoát có thể gây tại nạn cho người tham gia giao thông, gây hoang mang lo sợ và nỗi bất bình cho quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó hành vi của bị cáo còn có hành vi nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc biệt của chất ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tội phạm về ma túy có thể dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác. Nhà nước ta cũng như cả thế giới đều ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, mọi hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc nếu có vi phạm. Vì động cơ thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã chuẩn bị công cụ, phương tiện và địa điển để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tùy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Đối với Nguyễn Minh H, ngày 07/5/2020 Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng; chấp hành xong ngày 19/4/2021. Đến ngày 19/4/2023, Nguyễn Minh H hêt thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H đã bàn giao Nguyễn Minh H cho Công an phường L, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với đối tượng tên Q (chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H đã gửi yêu cầu xác minh số điện thoại 0972733073, hiện chưa có kết quả trả lời, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- 01 mũ bảo hiểm màu xám; 01 áo thun trơn màu xám; 01 quần sọc màu vàng; 01 đôi dép màu đen; hiện không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy;

- 01 Điện thoại di động kiểu dáng hiệu Nokia, màu xám đen; Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 USB ghi lại hình ảnh Trần Văn T thực hiện hành vi cướp giật, là chứng cứ trực tiếp nên cần được lưu vào trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Vũ Thị Hồng T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; Khoản 1 Điều 255: điểm s Khoản Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025:

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2025.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám; 01 (một) áo thun trơn màu xám; 01 (một) quần sọc màu vàng; 01 (một) đôi dép màu đen;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Nokia, màu xám đen;

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 394/BB2/26 ngày 18/3/2026 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ