- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Tài - phạm tội cản trở giao thông đường bộ (điều 203 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Dương Văn T phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày 24/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH – TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Chính
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Minh
Bà Nguyễn Thị Nữ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Xuân Lành – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Dương Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/8/1984 tại phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Con ông Dương Văn D và bà Đặng Thị C; Vợ Hồ Thị Bảo C1 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/4/2011 bị Công an phường Đ, thành phố H xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc theo Quyết định số 10/QĐ-XPHC. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Trà M, sinh năm 2005; Nghề nghiệp: Học sinh; Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hồ Thị N, sinh năm 1977; Nghề nghiệp: Giáo viên; Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
2. Công ty TNHH Đ1; Địa chỉ: số C, đường Q, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – Giám đốc, đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Tất L, sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, TP H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, TP H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2023, Công ty TNHH Đ1 do anh Nguyễn Hữu Đ làm giám đốc thuê Dương Văn T chở hàng từ kho hàng Công ty cổ phần N1 ở xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh đến công trình Nhà hàng 02 tầng tại đường L, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 09/5/2023, Dương Văn T (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải Huyndai có cần cẩu, biển kiểm soát: 38C-713.09 đến kho hàng của Công ty cổ phần N1 cùng nhân viên của Công ty Đ1 Building cẩu bốc 72 thanh kim loại hình chữ I, màu xám, kích thước khác nhau, dùng trong thi công hạng mục khung kết cấu thép lên thùng xe ô tô. Sau khi cẩu bốc hàng xong và chằng dây cẩn thận, T phát hiện có 05 thanh kim loại vượt quá chiều dài thùng xe khoảng 04 mét. Do đã nhận chở hàng từ chối chở sợ mất uy tín nên mặc dù biết chở số hàng trên đi trên đường rất nguy hiểm nhưng T vẫn điều khiển xe ô tô chở 72 thanh kim loại nói trên đi từ kho hàng của Công ty cổ phần N1 đến đường L ở thành phố H. Do công trình Nhà hàng 02 tầng mà T chở hàng đến nằm phía bên trái của đường L theo hướng đi xã T, huyện T nên T điều khiển xe vào làn đường trong cùng bên phải của đường L theo hướng đi xã T. Khi đầu xe ngang với công trình, T rẽ trái đi qua làn đường ngược chiều rồi leo lên vỉa hè và đi thẳng vào công trình. Khi đầu xe đi vào công trình được khoảng 02 đến 03 mét, thùng xe đang nằm trên vỉa hè (cách lề đường khoảng 01 mét), 05 thanh kim loại chiều dài vượt quá thùng xe đang nằm trên làn đường bên trái đường L và vượt quá lề đường khoảng 03 đến 04 mét thì T thấy phía trước đầu xe có nền đất bị sụt lún và có một số tấm ván cốt pha ở phía trước. T xuống xe, dùng ván cốt pha xúc đá xay san phẳng phần đất bị sụt lún để xe dễ tiến vào bên trong. Trong quá trình này T không đặt cờ hoặc đèn báo hiệu cảnh báo nguy hiểm cho người khác biết. Khoảng từ 03 phút đến 04 phút sau san lấp xong, T chuẩn bị lên xe để cho xe tiến lên vào bên trong thì cùng lúc này chị Nguyễn Trà M điều khiển xe máy điện đi trên làn đường bên phải đường L theo hướng từ xã T đi đường H, do không nhìn thấy 05 thanh kim loại vượt quá lề đường ra làn đường nên đầu của chị M va chạm vào 01 thanh kim loại ngã xuống đường. Dương Văn T, anh Nguyễn Tất L và anh Nguyễn Duy T1 chạy đến thấy chị M đang cử động, trên vùng đầu chảy nhiều máu, T nhờ anh L và anh T1 đưa chị M đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H còn T điều khiển xe ô tô tải tiến vào phía trong công trình để 05 thanh kim loại không gây cản trở giao thông, tránh nguy hiểm cho phương tiện khác.
Theo Bản kết luận giám định số 146/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 04/7/2023 của Trung tâm P xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Trà M như sau: Sẹo phẫu thuật hình vòng cung vùng trán kích thước lớn. Tỷ lệ TTCT là 03%; Khuyết xương sọ vùng trán và trần ổ mắt phải kích thước 09cm x 04cm, đáy phập phồng. Tỷ lệ TTCT là 28%; Tụ dịch dưới màng cứng dày 05mm. Tỷ lệ TTCT là 16%; Nhu mô thùy trán hai bên có các ổ giảm tỷ trọng tổn thương cũ. Tỷ lệ TTCT là 21%; Vỡ xoang hàm phải. Tỷ lệ TTCT là 07%; Vỡ trần ổ mắt trái. Tỷ lệ TTCT là 05%; Gãy cung tiếp xương gò má phải. Tỷ lệ TTCT là 08%; Gãy xương chính mũi. Tỷ lệ TTCT là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Trà M tại thời điểm giám định là 65%.
Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ khám nghiệm hiện trường phản ánh: Hiện trường trong điều kiện thời tiết khô ráo, khí hậu bình thường, ánh sáng ban ngày. Tình trạng hiện trường không còn nguyên vẹn do quá trình cấp cứu nạn nhân, người, phương tiện giao thông qua lại. Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại phần đường bên phải của đường L (hướng đi đường H) thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố H. Đường Lê Văn T2 là đường hai chiều, rộng 13m, không có giải phân cách cứng giữa và có vạch kẻ đường màu vàng nét đứt ở giữa đường.
Lấy cột đèn cao áp số LVT-09C làm điểm mốc cố định, lấy mép đường bên phải của đường L, tính theo chiều hướng đi đường H làm mép đường chuẩn. Xe ô tô tải biển kiểm soát 38C-173.09: Từ bánh sau bên phải đến điểm mốc: 10,3m; Từ bánh sau bên phải đến mép đường chuẩn: 8,4m; Từ bánh trước bên trái đến mép đường chuẩn: 13,6m; Từ điểm đầu thùng xe (sát cần cẩu) đến mép đường chuẩn: 12,2m. T3 sắt hình chữ I, kích thước 30cm x 15cm x 1180cm: Từ bánh xe phải phía sau đến thanh sắt hình chữ I: 1,2m. Vết máu dính trên thanh sắt, kích thước 15cm x 07cm: Từ tâm vết máu đến mép đường chuẩn: 1,4m. Kính: Từ kính đến mép đường chuẩn: 2,0m; Đường thẳng nối kính với tâm thanh sắt hình chữ I vuông góc với mép đường chuẩn. Mũ bảo hiểm màu đen: Từ kính đến mũ bảo hiểm: 3,6m; Từ mũ bảo hiểm đến mép đường chuẩn: 2,3m. Dép màu đen: Từ mũ bảo hiểm đến tâm dép: 7,0m; Từ tâm dép đến mép đường chuẩn: 5,0m. Vùng máu kích thước 3,6m x 1,8m: Từ tâm dép màu đen đến tâm vùng máu: 2,7m; Từ tâm vùng máu đến mép đường chuẩn: 2,8m. Vết cày kích thước 35m x 10cm: Từ tâm vùng máu đến đầu vết cày: 55m; Đuôi vết cày nằm trùng bánh sau của xe máy điện biển kiểm soát: 38MĐ1-351.53; Từ đầu vết cày đến mép đường chuẩn: 12,4m. Xe máy điện biển kiểm soát: 38MĐ1-351.53: Từ đầu vết cày đến bánh sau của xe máy điện: 0,45m; Từ bánh sau của xe máy điện đến mép đường chuẩn: 12,85m; Từ bánh trước của xe máy điện đến mép đường chuẩn: 14,35m.
Sau khi tai nạn xảy ra Dương Văn T đã bồi thường thiệt hại cho gia đình chị Nguyễn Trà M tổng số tiền 211.230.000 đồng. Chị Nguyễn Trà M và đại diện của chị M là bà Hồ Thị N không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS-TPHT ngày 08/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Dương Văn Tài về tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 261 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 261; Điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt Dương Văn T từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của Dương Văn T dừng xe ô tô tải biển kiểm soát 38C-713.09 chở 05 thanh kim loại hình chữ I có chiều dài vượt quá kích thước thành thùng xe, phần đuôi 05 thanh kim loại lấn ra lòng đường Lê Văn T2 khoảng 03 mét đến 04 mét gây cản trở giao thông nhưng không có cờ báo hiệu hoặc đèn báo hiệu cảnh báo nguy hiểm theo quy định đã gây ra tai nạn cho chị Nguyễn Trà M điều khiển xe máy điện không quan sát thấy đã va chạm vào 01 thanh kim loại ngã xuống đường, dẫn đến hậu quả chị Nguyễn Trà M bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%.
[2.2] Hành vi của Dương Văn T đã vi phạm khoản 2 Điều 8; khoản 1, khoản 2 Điều 19; khoản 2 Điều 20 Luật giao thông đường bộ:
Khoản 2 Điều 8; khoản 1, khoản 2 Điều 19; khoản 2 Điều 20 Luật giao thông đường bộ quy định:
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
2. đặt, để chướng ngại vật trái phép trên đường;...
Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố
1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. ...
2. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.”
Điều 20. Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ
2. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu.
Như vậy, lỗi gây ra vụ tai nạn nói trên lỗi chính thuộc về bị cáo, hậu quả chị Nguyễn Trà M bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%. Dương Văn T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Dương Văn T đã phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 261 Bộ luật hình sự.
Đối với chị Nguyễn Trà M điều khiển xe máy điện không chú ý quan sát là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Bồi thường thiệt hại” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị hại chị Nguyễn Trà M có một phần lỗi dẫn đến tai nạn theo quy định tại khoản 5 Mục I Thông báo giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, hậu quả của tai nạn giao thông là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo có trách nhiệm với bị hại, bị cáo được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và căn cứ nhân thân và nhiều tình tiết giảm nhẹ xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với Điều 36 Bộ luật hình sự.
Chính quyền địa phương xác nhận bị cáo công việc không ổn định, đang nuôi ba con nhỏ và gia đình đang ở trọ trong phòng trọ, năm 2022 cầm cố vay ngân hàng mua xe để làm ăn lại xảy ra tai nạn bị tạm giữ phương tiện không thể đi làm nên đang trong hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.
Xét luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, về mức án là phù hợp.
Trong vụ án này, Công ty TNHH Đ1 thuê T chở số thanh thép trên. Tuy nhiên, Công ty TNHH Đ1 không biết việc T đỗ xe có thanh thép trái quy định gây cản trở giao thông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không đề cập hình thức xử lý đối với Công ty TNHH Đ1 là phù hợp.
Về dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra Dương Văn T đã bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Trà M tổng số tiền 211.230.000 đồng. Chị Nguyễn Trà M và đại diện của chị M là bà Hồ Thị N không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với phần hư hỏng thiệt hại của xe máy điện nhãn hiệu Xmen, biển kiểm soát 38MĐ1-351.53, chị Nguyễn Trà M không yêu cầu bồi thường. Công ty TNHH Đ1 không yêu cầu bồi thường, miễn xét.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, số loại: HD170, màu trắng, biển kiểm soát: 38C-173.09, xe có cần cẩu, đã qua sử dụng đã trả lại cho Dương Văn T; Thu giữ 72 thanh kim loại hình chữ I, màu xám, kích thước khác nhau trên thùng xe ô tô tải biển kiểm soát 38C-173.09 trả lại cho anh Nguyễn Hữu Đ; Thu giữ 01 xe máy điện nhãn hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MĐ1-351.53 trả lại cho chị Nguyễn Trà M là phù hợp.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Sandick, dung lượng 32GB từ camera giám sát hành trình của xe ô tô tải biển kiểm soát 38C-173.09 cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 261 Bộ luật hình sự; điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 38; Điều 36 Bộ luật hình sự,
Tuyên bố: Dương Văn T phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Dương Văn T 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án.
Giao Dương Văn T cho UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Sandick, dung lượng 32GB từ camera giám sát hành trình của xe ô tô tải biển kiểm soát 38C-173.09.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Dương Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND TPHT ; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an TPHT; - T.H.A.P.T; - T.H.A.D.S TPHT; - Bị cáo, bị hại, Người CQLNVLQ; - UBND phường Đại Nài, TP Hà Tĩnh; - Sở TP Hà Tĩnh; - Lưu: HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Chính |