- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H phạm tội Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban nhân dân xã CV, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2021/HS- PT Ngày: 14 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các thẩm phán: 1. Bà Trần Thị Nhài
2. Ông Vương Hồng Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Mai Loan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2021 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 55/2021/TLPT-HS ngày 11/6/2021 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 159/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên , tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn H - tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/8/2000 tại Hà Giang; Nơi cư trú: Xóm 11, xã CV, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, chính quyền): Không; Con ông Phan Văn M, sinh năm 1962 và con bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1980; Bị cáo có vợ Đào Thị Thúy G, sinh năm 2000; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 24/12/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú , hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có bị cáo Đằng Văn H, Đặng Văn Tr không kháng cáo , không bi ̣ kháng nghi ̣ Tòa án không triê ̣u tâ ̣p.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/12/2020, đội Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 08, phường TL, thành phố TN phát hiện 01 nam thanh niên mặc áo khoác màu đen bước xuống từ xe ôtô nhãn hiệu Huyndai I10, BKS 20A - 254.56 rồi mở cốp phía sau xe bê xuống 01 tH catton màu vàng đặt xuống dưới chân rồi đứng nói chuyện với 01 nam thanh niên mặc áo phao màu xám đứng cạnh xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S màu xanh và 01 nam thanh niên mặc áo phao sáng màu đứng cạnh xe môtô nhãn hiệu Honda SH màu trắng, có biểu hiện mua bán hàng cấm nghi “pháo nổ”. Tổ công tác tiếp cận kiểm tra thì nam thanh niên ngồi trên xe ôtô Huyndai I10 điều khiển xe bỏ chạy, nam thanh niên mặc áo phao màu đen bỏ lại tH catton và 01 đôi dép hiệu GUCCI chạy bộ khỏi hiện Tr (sau xác định là Nguyễn Thế D và Phan Văn H), nam thanh niên mặc áo phao sáng màu điều khiển xe môtô Honda SH bỏ chạy khỏi hiện Tr, còn nam thanh niên mặc áo phao màu xám đứng cạnh xe môtô Honda Wave S màu xanh khai họ tên là Đằng Văn H. TH catton màu vàng để dưới đất cạnh chỗ H đứng kiểm tra bên trong phát hiện có 300 vật hình bóng đèn, một đầu hình tròn, một đầu hình trụ được gắn dây dẫn màu xanh. H khai là “Pháo” của H và Đặng Văn Tr mua của Phan Văn H. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ số vật chứng niêm phong theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Đằng Văn H 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, biển kiểm soát 97B1 -075.48, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có gắn 02 sim điện thoại 0972847216 và 0974492333.
Cùng ngày, mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và tiến hành cân xác định khối lượng của 300 vật nghi là pháo dạng hình bóng đèn tròn, một đầu hình trụ, một đầu hình tròn có khối lượng 11,1kg. Sau đó niêm phong toàn bộ các vật nghi là pháo được ký hiệu là A1 gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 84/KL- KTHS ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên , kết luâ ̣n: 300 (Ba trăm) vật dạng hình bóng đèn tròn, phần hình trụ dài 03cm, đường kính 2,7cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài và gắn sợi dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1cm bên ngoài bọc giấy màu nâu, được niêm phong theo quy định của pháp luật, ký hiệu A1 là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của 300 quả pháo trong niêm phong ký hiệu A1 là 11,1 kg.
Hồi 15 giờ 00 phút và 22 giờ 00 phút cùng ngày, Đặng Văn Tr và Phan Văn H đến Công an thành phố Thái Nguyên đầu thú.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận như sau: Khoảng tháng 10 năm 2020 thông qua mạng xã hội Facebook có 01 nam thanh niên đặt mua của H 300 quả pháo cù (còn gọi là pháo trứng) và 08 dàn pháo loại 36 quả. Sau đó H có liên lạc với Đặng Văn C (sinh ngày 07/02/2002, trú tại xóm CS2, xã SC, thành phố TN là cháu của H) muốn mua pháo để bán cho bạn của H. C trao đổi với Nguyễn Thăng L (sinh ngày 01/01/2002, trú tại xóm 11, xã CV, huyện ĐT) thì được biết Phan Văn H là người có pháo bán. Trước đó C có gửi cho Tr (là chú của C) một video về việc đốt pháo và nói có biết người bán pháo ở xã CV. Sau đó, nhờ Long giới thiệu và cho số điện thoại của H nên C đưa cho Tr số điện thoại của H để Tr trực tiếp liên hệ với H. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/12/2020 Tr và H gọi điện thoại và gặp nhau ở khu vực bãi thải mỏ than KH và thống nhất khi nào có nhu cầu lấy pháo thì Tr sẽ gọi điện thoại báo cho H. Ngày 15/12/2020 vào lúc 20 giờ 00 phút, C đưa Tr đến nhà Đằng Văn H để Tr và H bàn bạc việc mua pháo, tuy nhiên C không tham gia và không biết nội dung Tr và H trao đổi việc mua bán pháo như thế nào. Còn H sau khi được Tr thông tin cho biết giá pháo mà H bán thì cả hai thống nhất sẽ đặt mua của H 300 quả pháo cù và 08 dàn pháo loại 36 quả sau đó mang bán lại cho bạn của H với giá 35.000đ/quả “pháo cù” và 800.000đ/dàn pháo loại 36 quả và thống nhất bảo H giao pháo trực tiếp cho bạn của H rồi thu tiền luôn, số tiền chênh lệch Tr và H sẽ mua của H 10 dàn pháo loại 36 quả và chia mỗi người 05 dàn để đốt Tết. Sau khi bàn bạc thống nhất, H điện thoại cho người mua pháo và hẹn sáng ngày 16/12/2020 sẽ giao hàng tại khu vực Tr THCS AK thuộc xã AK, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên.
Sáng ngày 16/12/2020, do Tr bận đi làm nên Tr cho H số điện thoại của H, sau đó H gọi điện cho H và thống nhất địa điểm giao nhận pháo là ở khu vực CS gần Trường THCS AK (giáp ranh giữa xã SC, thành phố TN và xã AK, huyện ĐT). Khoảng 09 giờ cùng ngày H điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave BKS 97B1 -075.48 đi gặp nam thanh niên đặt mua pháo rồi dẫn đến địa điểm giao nhận mà H và H đã thống nhất. Tuy nhiên khi đến nơi thì H gọi điện thông báo cho H biết là chỉ có 300 quả “pháo cù” chứ không có pháo dàn đồng thời bảo H lên nhà H nhận hàng. Lúc này nam thanh niên mua pháo không đồng ý đi và nói không mua nữa nên H gọi điện thông báo lại cho H biết thì H thay đổi ý kiến và nhất trí sẽ chở pháo xuống khu vực bãi cát thuộc xóm CS2, xã SC, thành phố TN.
Sau đó, Phan Văn H gọi điện thoại cho Nguyễn Thế D (sinh năm 1994 – trú tại xóm 8, xã CV, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên) làm nghề lái xe TAXI, thuê xe chở pháo xuống bán cho H. Tại khu vực xóm CS2, xã SC sau khi gặp nhau H điều khiển xe môtô đi trước, còn H đi xe ôtô TAXI do anh D điều khiển đi theo phía sau đến khu vực đường tròn TL đoạn thuộc tổ 8, phường TL để gặp và bán số pháo cho nam thanh niên đặt mua pháo. Tuy nhiên H vừa mở cốp xe TAXI và bê tH pháo đặt xuống dưới chân rồi đứng nói chuyện với H và nam thanh niên mua pháo thì tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế Công an thành phố TN phát hiện, kiểm tra. Do hoảng sợ nên H đã bỏ lại đôi dép có chữ GUCCI và chạy bộ về nhà, Duy và nam thanh niên mua pháo cũng điều khiển xe ôtô và môtô bỏ chạy khỏi hiện Tr, còn H thì bị tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 159/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên , tỉnh Thái Nguyên đã tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 24/12/2020.
Ngoài ra bản án còn quyết định tô ̣i danh, hình phạt đối vớ i bi ̣ cáo Đằng Văn H, Đặng Văn Tr, xử lý vâ ̣t chứ ng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Án sơ thẩm xử xong, ngày 11/5/2021 bị cáo Phan Văn H kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.
Quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Buôn bán hàng cấm” là đúng người, đúng tội, không oan. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, chưa có tiền án, tiền sự và có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp cho Tòa án Huân chương kháng chiến của ông, bà của bị cáo. Bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, được Chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, vì vậy có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn H được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, được xem xét theo thủ tu ̣c phúc thẩm.
Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lờ i khai của ngườ i làm chứ ng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/12/2020, tại khu vực tổ 08, phường TL, thành phố TN, Phan Văn H đang có hành vi bán cho Đằng Văn H và Đặng Văn Tr 11,1kg pháo để H và Tr bán cho một nam thanh niên chưa rõ lai lịch, địa chỉ thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Với hành vi nêu trên, bị cáo Phan Văn H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp cho Tòa án Huân chương kháng C của ông, bà ngoại của bị cáo; bị cáo có ông nội là Liệt sỹ, ngoài ra bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, được Chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ các quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn H, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 159/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn H 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tô ̣i “Buôn bán hàng cấm”.
Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban nhân dân xã CV, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Tr hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí bị cáo Phan Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND T. Thái Nguyên;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND TPTN;
- TAND TPTN;
- Chi cục THADS TPTN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
Đặng Minh Tuân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhài – Vương Hồng Giang
Đặng Minh Tuân
| Nơi nhận: - VKSND T. Thái Nguyên; - VKSND TPTN; - TAND TPTN; - Chi cục THADS TPTN; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |