- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thanh Vu va Nguyen Le Trong N trom kieng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:68/2017/HSST Ngày: 20-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng;
Ông Trần Văn Hải.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long – Kiểm sát viên.
Ngày 15-9 và ngày 20-9-2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2017/HSST ngày 16/8/2017 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1988.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thư ng tr : t 63, khóm M, phư ng 5, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ch ở: t 30, khóm 4, phư ng 5, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Nghề nghiệp: làm thuê;
- Trình độ học vấn: 12/12;
- Họ và tên cha: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1970.
- Họ và tên mẹ: Lê Thị Th, sinh năm 1968.
- ia đình có 03 ngư i, bị can là con th hai trong gia đình.
- V : Lâm Thị sinh năm 1993.
- Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2011.
- V : Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1995.
- Con: có 01 con tên Nguyễn Quốc K, sinh năm 2015.
- Tạm giữ: 27-5-2017.
- B t giam: 05-6-2017.
- Hiện bị can đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C, Đồng Tháp và có mặt tại phiên tòa.
- Tiền án: có 01 tiền án.
+ Ngày 30-9-2015 bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm 06 tháng t về tội Trộm c p tài sản . Chấp hành xong ngày 02-9-2016.
2/ Họ và tên: Nguyễn Lê Trọng N, sinh năm: 1993.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thư ng tr : t 63, khóm M, phư ng 5, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Ch ở: ấp 2, xã P, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
- Nghề nghiệp: làm thuê;
- Trình độ học vấn: 08/12;
- Họ và tên cha: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1970;
- Họ và tên mẹ: Lê Thị T, sinh năm 1968.
- ia đình có 03 ngư i, bị can là con th t trong gia đình.
- V : Nguyễn Cẩm N, sinh năm 1995.
- Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014.
- Tạm giữ: 27-5-2017.
- B t giam: 05-6-2017.
- Hiện bị can đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp và có mặt tại phiên tòa.
- Tiền án: không.
- Tiền sự: không.
+ Nhân thân: Ngày 10-4-2012 bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 09 tháng t về tội Trộm c p tài sản . Chấp hành xong ngày 25-9-2012.
* Ngư i bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Trọng N là bà Lê Hồng D- Tr gi p viên Trung tâm tr gi p pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Tháp.
* Ngư i bị hại: Lê Kh c T, sinh năm 1976 (v ng mặt).
HKTT: ấp 6, xã M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
* Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1995 (có mặt).
HKTT: ấp 2, xã P, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN THẤY:
Các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng giữa tháng 5 năm 2017, Trần Phước Đ đến nhà anh Lê Kh c T ở ấp 6, xã M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp hỏi mua 03 cây mai chiếu thủy và 01 cây trang vàng, anh T nói 03 cây mai giá 10.000.000 đồng, Đ ngã giá 8.000.000 đồng nhưng anh T chưa chịu bán. Đến ngày 26-5-2017, Đ gặp Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N (em ruột của V) tại quán cà phê nên nói cho V biết là nhà anh T có một số cây kiểng, trong đó có cây mai và cây trang là có giá trị, đồng th i dẫn V và N đến nhà anh T để chỉ ch cây mai và cây trang để khi nào ngã giá xong thì nh V đến b ng giùm, Đ sẽ trả công. Sau đó, anh Đ đi về quê ở Ch M, tỉnh An iang có công việc.
Sau khi nghe Đ nói cây mai và cây trang của anh T là có giá trị thì V và Nn nảy sinh ý định trộm c p để bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 00 gi 15 phút ngày 27-5-2017, N điều khiển xe mô tô mang biển số 66H1-5540 chở V đến nhà anh T, N đậu xe cách c ng khoảng 50 mét ch , còn V thì lẻn vào sân nhà anh T, d ng tay nh 01 cây mai và 01 cây trang vàng đem ra xe c ng N đi về. Khi đến ch BT, thuộc khu vực t 4, ấp 6, xã M, thành phố C thì bị Công an xã M phát hiện. V bỏ cây mai và cây trang xuống lề đư ng rồi c ng N chạy đến khu vực ấp 6, xã M bị Công an xã b t giữ.
Tại biên bản b t ngư i phạm tội quả tang, Công an xã M đã thu giữ một cây mai chiếu thủy có hoành 35 cm, cao 90 cm; 01 cây trang vàng, hoành 23 cm, cao 120 cm; một xe mô tô mang biển số 66H1-5540 nhãn hiệu Majesty màu xanh.
Kết luận định giá tài sản số 52/KL-Đ TS ngày 29-5-2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh đã kết luận: 01 cây mai chiếu thủy, cao 90 cm, chu vi thân cây 35 cm, cây đã đư c uốn n n, tạo dáng; có giá 5.000.000 đồng; 01 cây trang vàng, chu vi thân cây 23 cm, kích thước từ cành đến ngọn là 1,2 mét, cây đã đư c uốn n n, tạo dáng, có giá 5.000.000 đồng. T ng giá trị 10.000.000 đồng.
Đối với vật ch ng là cây mai và cây trang, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T vào 27-5-2017. Trong quá trình điều tra, gia đình N và V đã tự nguyện bồi thư ng cho anh T 2.000.000 đồng, anh T không yêu cầu bồi thư ng khì khác đồng th i bãi nại cho N và V.
Đối với xe mô tô mà N sử dụng chở V đi trộm c p, do anh Lê Minh N ở ấp 6, xã , huyện CL đ ng tên đăng ký xe. Xe trên anh N đã bán cho một ngư i không rõ nhân thân vào năm 2011; ông Nguyễn Thanh P (cha ruột) chị Nguyễn Cẩm N mua lại của một ngư i không rõ tên địa chỉ với giá 3.600.000 đồng và cho con gái là chị N sử dụng trước khi về sống chung với N kết hôn năm 2013. Chị N không biết N sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 09-08-2017 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố C ra Quyết định trả lại vật ch ng, cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho chị N quản lý sử dụng.
Trong q a trình điều tra, Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N khai: Đ cho biết là nhà anh T có một số cây kiểng, trong đó có cây mai và cây trang là có giá trị, đồng th i dẫn V và Nn đến nhà anh T để chỉ ch cây mai và cây trang. khi nào có kiểng thì đem đến nhà trọ ST tại ấp 1, xã M, thành phố C (nơi Đ ở trọ) thì Đ sẽ mua lại. Tuy nhiên, Đ không thừa nhận và cũng không có ch ng c nào khác, nên l i khai của các bị cáo chưa đủ cơ sở để chấp nhận.
Tại Cáo trạng số 66/CT–VKS ngày 15-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tôi của mình từ đó Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo.
Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã đư c thẩm tra tại phiên tòa;
Căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY:
Tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Từ đó có đủ căn c kết luận như sau: Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N do muốn có tiền tiêu xài nên V và N đã có hành vi lén l t chiếm đoạt của anh Lê Kh c T 01 cây mai chiếu thủy và 01 cây trang vàng có giá trị 10.000.000 đồng vào l c 01 gi , ngày 27-5-2017 tại ấp 6, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, trên đư ng vận chuyển tiêu thụ thì bị b t giữ.
L i khai nhận của các bị cáo hoàn toàn ph h p với l i khai của ngư i bị hại, ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan, ngư i làm ch ng, vật ch ng và các ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo là có tội và đã phạm vào tội Trộm c p tài sản , đư c quy định tại Khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại Điều 138 Bộ luật Hình sự có quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2...
Các bị cáo là những đối tư ng tuy tu i đ i còn trẻ, có s c khoẻ để lao động nuôi sống bản thân và gia đình nhưng các bị cáo không lo chí th làm ăn lương thiện, lư i biếng lao động, muốn có tiền tiêu xài mà khỏi phải tốn mồ hôi và công s c lao động như bao nhiêu ngư i lao động lương thiện trong xã hội, nên đã thực hiện hành vi trộm c p tài sản của ngư i khác một cách trái pháp luật. Do đó, Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh đưa vụ án ra xét xử ngày hôm nay là rất cần thiết, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Thanh V là ngư i đóng vai trò rủ rê, chủ động thực hiện tội phạm nên V là ngư i chịu trách nhiệm chính trong vụ án, còn N là đồng phạm trong vụ án.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản h p pháp của ngư i khác đư c pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng cho bị cáo một m c hình phạt tương x ng với hành vi phạm tội của từng bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian nhất định để bị cáo có th i gian học tập, cải tạo, trở thành ngư i tốt có ích cho gia đình và xã hội sau này. Đồng th i cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm
- Bị cáo Nguyễn Thanh V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thư ng kh c phục hậu quả xong cho bị hại đư c bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm p và b khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đư c xóa án tích nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Lê Trọng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thư ng kh c phục hậu quả, bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có s hộ nghèo. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, p Khoản 1 và khoản 2, Điều 46 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N c ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1, Điều 138; Điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V với m c án từ 18 tháng đến 24 tháng t .
- Áp dụng khoản 1, Điều 138; Điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trọng N với m c án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và vật ch ng đề nghị như phần quyết định của bản cáo trạng đã nêu.
- Ngư i bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Trọng N phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo và viện dẫn các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xử bị cáo m c án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Xét thấy l i đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và Ngư i bào chữa là phù h p nên chấp nhận.
- Đối với anh Trần Phước Đ có dẫn V và N đến nhà anh T để chỉ ch cây mai và cây trang và h a sẽ thuê V b ng kiểng, nhưng không h a hẹn mua tài sản do V và N trộm c p mà có và cũng không biết V và N trộm kiểng của anh T, do đó, chưa đủ căn c để xác định Đ đồng phạm trong vụ án. Đề nghị Công an thành phố Cao Lãnh tiếp tục theo dõi đối tư ng Đ, nếu có căn c làm rõ xem xét xử lý sau.
* Về trách nhiệm dân sự:
Tại Cơ quan Điều tra, anh Lê Kh c T đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu các bị cáo bồi thư ng gì thêm nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
* Về vật ch ng: Đã giải quyết xong nên không đặt vấn đề giải quyết.
* Về án phí: Căn c Nghị quyết 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội về án phí thì các bị cáo phải chịu án phí như sau:
- Bị cáo Nguyễn Thanh V phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Miển tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Lê Trọng N vì gia đình bị cáo có s hộ nghèo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Lê Trọng N cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1, Điều 138; Điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh V 02 (hai) năm tù. Th i hạn t tính từ ngày 27-5-2017.
2. Áp dụng khoản 1, Điều 138; Điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Trọng N 01 (một) năm t . Th i hạn t tính từ ngày 27-5-2017.
* Về án phí: Căn c Nghị quyết 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội về án phí thì các bị cáo phải chịu án phí như sau:
- Bị cáo Nguyễn Thanh V phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Miển tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Lê Trọng N vì gia đình bị cáo có s hộ nghèo.
Trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Riêng ngư i bị hại v ng mặt đư c quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đư c tống đạt h p lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND TP. Cao Lãnh; - CA TP. Cao Lãnh; - THADS TP. Cao Lãnh; - Bị cáo; - Những ngư i tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Minh Tùng |