- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chấ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2024/HSST Ngày: 28-05-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
Ông Nguyễn Mạnh Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 05 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn K; sinh ngày 23 tháng 05 năm 2002 tại Hòa Bình.
Hộ khẩu thường trú tại: xóm T, xã T1, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Trú tại: Xóm V, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Nghề nghiệp tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố Hòa Bình, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Phương T; sinh ngày 18 tháng 04 năm 1989 tại Hà Nội
Nơi cư trú: Xóm T3, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1961 và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1961; có vợ Hà Thị C, sinh năm 1986 và 01 con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 30/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 8 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/HSST. Ngày 13/12/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử 05 năm tù về tội Cướp tài sản; tổng hợp hình phạt của cả hai bản án nêu trên buộc Nguyễn Phương T phải chấp hành hình phạt là 13 năm 06 tháng tù tại Bản án số 29/2010/HSST. Ngày 10/05/2020, bị cáo Nguyễn Phương T đã chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Hòa Bình, được trích xuất có mặt tại piên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn K là người nghiện ma túy, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, bị cáo K đi xe máy một mình từ nhà tại xóm V, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đến khu vực ngã tư đèn đỏ thuộc địa phận xã Cổ Đông, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ lai lịch tên thường gọi là Dũng Tề mua 01 gói ma túy đá (loại Methamphetamine) và 01 cóng thủy tinh với giá 300.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, bị cáo K mang theo ma túy đến quán thịt chó của Đinh Văn T, Sinh năm 1994, HKTT và chỗ ở: Xóm T, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, ngồi ăn cùng 02 người khác là Nguyễn Văn Linh, sinh năm 1995, HKTT: Xóm Vân Nam, xã Quang Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và Đinh Duy T4, sinh năm 1997, HKTT: Xóm T, xã Quang Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, khi ăn không nói cho 2 người đi cùng biết về việc bị cáo có ma túy. Sau khi ăn uống xong, bị cáo K, Linh và T4 sang quán Bi-a của bị cáo Nguyễn Phương T để chơi bi-a (Quán bi-a do T làm chủ). Tại quán của T, bị cáo K nói cho Nguyễn Văn Linh, Đinh Duy T4 và Nguyễn Phương T có ma túy sử dụng. Sau đó, K đi vào phòng ngủ (vị trí thứ 3 trong cùng của quán Bi-a) chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, bị cáo T thấy bị cáo K tự châm lửa sử dụng ma túy và được bị cáo K châm lửa làm nóng cóng thủy tinh bên trong có chứa ma túy cho bị cáo T sử dụng. Cùng lúc đó, Linh và T4 vào phòng ngủ, bị cáo K tiếp tục châm lửa đốt cóng thủy tinh cho Linh và T4 sử dụng ma túy.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Hòa Bình chủ trì phối hợp với Công an xã Quang Tiến, thành phố Hòa Bình tiến hành kiểm tra, phát hiện phòng ngủ quán bi-a của bị cáo Nguyễn Phương T tại địa chỉ xóm Trung Mường, xã Quang Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình có bị cáo Nguyễn Văn K cùng người khác có hành vi sử dụng ma túy.
Tại Bản K luận giám định số 46 ngày 10/01/2024 của Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình, K luận:
“- Bên trong 06 túi nilon trong phong bì niêm phong gửi giám định có bám dính ma túy, loại Methamphetamine. Chất bám dính bên trong 06 túi nilon quá ít, không xác định được khối lượng.
- Bên trong ống hút màu vàng, ống hút màu hồng, cóng thủy tính và ống hút màu trắng được nối liền với nhau trong phong bì niêm phong gửi giám định có bám dính ma túy, loại Methamphetamine. Chất ma túy bám dính bên trong 03 ống hút và cóng thủy tinh quá ít, không xác định được khối lượng”
Tại Bản K luận giám định số 573 ngày 01/02/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an K luận:“Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng đựng trong chai nhựa gửi giám định. Thể tích chất lỏng là 300,0 mL, nồng độ chất Methamphetamine là 0,005 mg/mL”
Tại Bản K luận giám định số 584 ngày 21/3/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an K luận:“Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp video gửi giám định”
Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 17/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Phương T và Nguyễn Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51; điều 38, điều 17, điều 58 BLHS xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn K mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38, điều 17, điều 58 BLHS xử phạt: bị cáo Nguyễn Phương T mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong có 01 sim Mobifone, màn hình có vết nứt vỡ, tình trang đã qua sử dụng của Nguyễn Văn K; Trả cho bị cáo Nguyễn Phương T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, bên trong có 01 (một) sim Viettel, tình trạng đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Phương T;
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; K luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 03/01/2024, các bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methaphetamine) tại quán bi-a của bị cáo Nguyễn Phương T, địa chỉ tại xóm Trung Mường, xã Quang Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, đây còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, cung cấp ma túy, tụ tập, chế biến ma túy để cùng nhau sử dụng bị nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và những người khác nên vẫn cố tình thực hiện. Cáo trạng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án các đối tượng cùng nhau tham gia thực hiện tội phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, chỉ đạo, điều hành, phân công trách nhiệm, vai trò của từng người một cách rõ ràng, chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn K là người khởi xướng, trực tiếp mua ma túy, mua cóng thủy tinh, chuẩn bị 01 chai nhựa được đục lỗ, gắn các ống hút, người trực tiếp chế ma túy để cho các đối tượng khác sử dụng do đó phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Nguyễn Phương T là người có địa điểm quán bi-a để cho K và những người khác sử dụng ma túy. Tại thời điểm K tổ chức sử dụng ma túy tại phòng ngủ phía trong quán bi-a của mình, bị cáo T mặc dù đã thấy và biết rõ việc K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho những người đi cùng, nhưng đã tiếp nhận ý chí của bị cáo K bằng việc đồng ý cho K sử dụng địa điểm quán bi-a của mình để thực hiện hành vi phạm tội và cùng bị cáo K sử dụng ma túy. Mặc dù bị cáo T là người có địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không phải là người trực tiếp chuẩn bị, lựa chọn địa điểm, nên trong vụ án này T tham gia với vai trò là người giúp sức. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu nên cũng phải chịu hình phạt giống như bị cáo K.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo có ông nội được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Phương T có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, vẫn tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên cũng xem xét, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Văn K khai nhận bản thân đã mua được của một người đàn ông không quen biết thường gọi là Dũng Tề tại khu vực ngã tư đền đỏ thuộc khu vực Cổ Đông, Sơn Tây, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực trên, do không xác định được nhân thân, cũng như lai lịch của người đàn ông trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về hành vi của những cá nhân khác trong vụ án:
Đối với Đinh Duy T4, sinh năm: 1997, HKTT: Xóm Trung Mường, xã Quang Tiến, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập, xác minh nhiều lần nhưng T4 không có mặt tại địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với Đinh Duy T4 về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Văn Linh có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 03/01/2024 tại quán Bi-a của Nguyễn Phương T. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng vụ án: Toàn bộ số ma túy chất Methamphetamine trong mẫu chất lỏng đựng trong chai nhựa gửi giám định. Xét đây là những vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành tuyên tịch thu và tiêu hủy.
Xét 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong có 01 sim Mobifone, màn hình có vết nứt vỡ, tình trạng đã qua sử dụng của Nguyễn Văn K, bị cáo K dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước; Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, bên trong có 01 (một) sim Viettel, tình trạng đã qua sử dụng của Nguyễn Phương T, xét chiếc điện thoại trên không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả cho bị cáo T; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Phương T; Xét đây là giấy tờ cá nhân, cần trả lại cho các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51; điều 38, điều 17, điều 58 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38, điều 17, điều 58 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phương T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ trong 01 phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả sau giám định chất ma túy của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 03/01/2024 tại xã Quang Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có chữ ký xác nhận của Giám định viên, thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật điều tra hình sự Công an tỉnh Hòa Bình; 01 phong bì niêm phong dán kín số: 584/KL-KTHS. Mép dán phong bì niêm phong có dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 hộp niêm phong dán kín có ghi: Mẫu vật hoàn trả sau giám định số: 573/KL-KTHS, trên mép dán có hình dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và chữ ký, họ tên: Nguyễn Văn Hùng, Phạm Đức Trọng;
Tịch thu, phát mại sung, công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, màn hình có vết nứt, đã qua sử dụng và một sim mobifone bên trong điện thoại Samsung thu giữ của Nguyễn Văn K;
Trả cho bị cáo Nguyễn Phương T: 01 chiếc điện thoại VIVO màu xanh, màn hình có vết nứt, vỡ, đã qua sử dụng và 01 sim Viettel bên trong điện thoại VIVO Nguyễn Phương T; và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Phương T.
Các vật chứng trên theo biên bản bàn giao vật chứng số 83/BB/24 ngày 04/5/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hòa Bình và chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - VKSND tỉnh HB; - Công an thành phố HB; - Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án DS TPHB; - Bị cáo, người liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Lan |