vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Tiến N, Phan Ngọc C, Phan Văn N1 và Nguyễn Thị Nguyệt N2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Lê Tiến N 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2022. Bị cáo Phan Ngọc C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chât ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Tiến N, Phan Ngọc C, Phan Văn N1 và Nguyễn Thị Nguyệt N2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST
Ngày 18/5/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đường Anh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mỳ;

Ông Đặng Văn N2.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Lê Tiến N, sinh ngày 20/9/1997; tên gọi khác: N Nhóc; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 6, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con, sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Nguyệt N2; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 26/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; bị cáo có mặt.

2/ Họ và tên: Phan Ngọc C, sinh ngày 10/9/1992; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 6, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Ngọc M, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948; gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy và chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 26/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; bị cáo có mặt.

3/ Họ và tên: Phan Văn N1, sinh ngày 26/01/2000; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 6, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con út và chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 26/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; bị cáo có mặt.

4/ Họ và tên: Nguyễn Thị Nguyệt N2, sinh ngày 04/10/1998; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ 10, ấp 2, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1969; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út, có chồng là Nguyễn Đình T, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2018, sống chung như vợ chồng với Lê Tiến N; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 27/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; bị cáo có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Văn Đ, sinh ngày 05/11/1991; nơi cư trú: Tổ 15, khu phố 5, thị trấn V, huyện V tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Tiến N được em ruột là Lê Thị Kiều Oanh, sinh năm 2001 giao trông coi, quản lý căn nhà của vợ chồng Oanh tại khu phố 6, thị trấn V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. N sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Nguyệt N2 tại đây và thường rủ bạn bè đến tập trung chơi.

Tối ngày 25/10/2022, Phan Ngọc C và Phan Văn N1 đến nhà Lê Tiến N chơi sau đó ngủ lại qua đêm. Khoảng 11 giờ ngày 26/10/2022, trong lúc cả nhóm ngồi chơi tại phòng thứ nhất của căn nhà, Phan Ngọc C rủ Phan Văn N1 và Lê Tiến N mua ma túy về sử dụng thì Phan Văn N1 và Lê Tiến N đồng ý. C sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A51 mở ứng dụng Zalo có tài khoản của C tên “Hai Thượng” gọi vào tài khoản Zalo “Co Dơn” của đối tượng C (không rõ họ, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Sau khi đặt mua ma túy, Lê Tiến N có việc nên mượn xe của N2 đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau C (bán ma túy) mang ma túy đến, Nguyễn Thị Nguyệt N2 mở cửa rồi cùng với C (bán ma túy) vào phòng đầu tiên của căn nhà. Lúc này C (bán ma túy) đưa cho Phan Ngọc C một bịch nylon bên trong có chứa ma túy đá. Phan Ngọc C nhận ma túy rồi đưa cho Phan Văn N1 và nói N1 lấy ma túy nấu cho cả nhóm sử dụng. Phan Văn N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nước, 01 tẩu thủy tinh, 01 ống hút cất ở góc giường và đổ một phần ma túy vào tẩu thủy tinh đốt nóng rồi cùng N2, Phan Ngọc C và C (bán ma túy) sử dụng. Phần ma túy còn lại Văn N1 hàn kín bỏ trong hộp nhựa để lát nữa lấy ra tiếp tục sử dụng. Khi Phan Ngọc C, Phan Văn N1, N2 và C (bán ma túy) đang sử dụng ma túy thì Lê Văn Đ, sinh năm 1991, ngụ tại khu phố 5, thị trấn V, huyện V đến trả xe cho Lê Tiến N thấy nhóm Phan Văn N1, Phan Ngọc C, N2 đang sử dụng ma túy nên vào cùng sử dụng. Sau đó C (bán ma túy) yêu cầu Phan Ngọc C trả tiền, Phan Ngọc C hỏi mượn N2 250.000 đồng trả trước tiền mua ma túy rồi tính lại, nợ lại 250.000 đồng. N2 đồng ý và lấy tiền đưa cho Phan Ngọc C mượn, C “bán ma túy” nhận tiền rồi ra về.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày 26/10/2022, Lê Tiến N quay về nhà, N2 đi chợ hết tiền nên sử dụng điện thoại di động Iphone XS Max nhắn tin qua tài khoản zalo trên điện thoại di động Iphone 11 Pro Max của Lê Tiến N đòi 250.000 đồng mà Phan Ngọc C đã mượn mua ma túy trước đó, Lê Tiến N đồng ý chuyển khoản cho N2. Sau đó Lê Tiến N vào phòng để sử dụng ma túy cùng Lê Văn Đức, Phan Ngọc C và Phan Văn N1 thì bị lực lượng Công an thị trấn V vào lập biên bản bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang.

Qua test nhanh chất ma túy, các đối tượng đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

- Tại nơi các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 bình nhựa, nắp màu xanh lá cây, trên nắp có gắn 01 ống hút bằng nhựa dài 24cm; 02 hộp quẹt ga (trong đó 01 hộp quẹt đã bị mất đi phần đầu); 01 đoạn ống bằng kim loại có kích thước 6cm; 01 tẩu thủy tinh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong).

- Trong hộp nhựa dưới gầm giường trong phòng các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 bịch nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong theo quy định).

- Thu giữ trên người các đối tượng: Lê Tiến N 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max; Phan Văn N1 01 điện thoại di động Oppo, loại CPH1803; Phan Ngọc C 01 điện thoại di động Nokia 105, 01 điện thoại di động Samsung A51; Nguyễn Thị Nguyệt N2 01 điện thoại di động Iphone XS Max, 01 điện thoại di động Oppo A93.

Tại kết luận giám định số 2305/KL-KTHS ngày 03/11/2022 của Giám định viên Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,016gam, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,085gam, loại Methamphetamine. Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định do đã sử dụng hết trong công tác giám định. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 2035/KL-KTHS.

Bản Cáo trạng số: 63/CT-VKSVC ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Lê Tiến N cùng đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 và Điều 54 (áp dụng cho bị cáo N2) của Bộ luật hình sự; xử phạt: Lê Tiến N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Phan Ngọc C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Phan Văn N1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Nguyễn Thị Nguyệt N2 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù;

Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Các bị cáo không trình bày lời bào chữa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn, hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Tiến N cùng đồng phạm đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 14 giờ 10 ngày 26/10/2022, tại nhà ở thuộc khu phố 6, thị trấn V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Lê Tiến N cùng Phan Ngọc C góp tiền mua ma túy. Sau đó Lê Tiến N, Phan Ngọc C, Phan Văn N1, Nguyễn Thị Nguyệt N2 và đối tượng tên C (bán ma túy) tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho chính mình và đối tượng Lê Văn Đ.

Các bị cáo đồng ý với Kết luận giám định số: 2035/KL-KTHS ngày 03/11/2022 của Giám định viên Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đối với mẫu giám định ký hiệu (M1), (M2) và không có ý kiến gì thêm.

Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập, nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Lê Tiến N, Phan Ngọc C, Phan Văn N1 và Nguyễn Thị Nguyệt N2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung là “đối với 02 người trở lên”, tội danh và hình phạt được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là người từng sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy, biết ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý về việc cất giữ, vận chuyển cũng như mua bán các loại chất này; tuy nhiên bản thân các bị cáo lại góp tiền mua ma túy, tổ chức sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào người bằng cách bỏ ma túy vào tẩu thủy tinh đốt nóng rồi cùng nhau sử dụng. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật và các loại tệ nạn xã hội khác.

Xét tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia tội phạm của từng bị cáo trong vụ án thể hiện;

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Trong đó, bị cáo Lê Tiến N góp tiền mua ma túy, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bình nước, tẩu, ống hút), quẹt ga và địa điểm do mình quản lý cho các đối tượng sử dụng trái phép ma túy; bị cáo Phan Ngọc C là người khởi xướng, liên lạc và góp tiền mua ma túy; bị cáo Phan Văn N1 phạm tội với vai trò đồng phạm là người thực hành, bỏ ma túy vào tẩu thủy tinh đốt nóng cho cả nhóm cùng sử dụng; bị cáo Nguyễn Thị Nguyệt N2 phạm tội với vai trò đồng phạm là người giúp sức, cho Phan Ngọc C mượn tiền để trả tiền mua ma túy cho cả nhóm sử dụng rồi tính lại; để các bị cáo cùng nhau tổ chức sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào người, thì bị Công an phát hiện lập biên bản bắt giữ người trong trường hợp phạm tội quả tang.

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm trong vụ án, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm đối với từng bị cáo.

Về hình phạt dành cho bị cáo Lê Tiến N và Phan Ngọc C tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm như đã phân tích, nghiêm khắc, ngang nhau và cao hơn các bị cáo khác; hình phạt dành cho Phan Văn N1 cao hơn hình phạt dành cho bị cáo Nguyễn Thị Nguyệt N2. Do vậy, để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng để các bị cáo lấy đó làm bài học cho mình mà tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu; bị cáo Phan Ngọc C có thân nhân mẹ là bà Nguyễn Thị Thu, là người có công trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ; bị cáo Nguyễn Thị Nguyệt N2 đã ly hôn chồng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang phải một mình nuôi con (bé gái) còn nhỏ sinh ngày 11/12/2018; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định hình phạt cho từng bị cáo và áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dành cho bị cáo Phan Văn N1 và Nguyễn Thị Nguyệt N2 mà vẫn đạt được yêu cầu của việc phòng và chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung, theo qui định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do các bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max; 01 (một) điện thoại di động Samsung A51; 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy đối tượng sau giám định trong niêm phong số 2305/KL-KTHS ngày 03/11/2022; 01 (một) bình nhựa, nắp màu xanh lá cây, trên nắp có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa dài 24cm; 02 (hai) hộp quẹt ga (trong đó 01 hộp quẹt đã bị mất đi phần đầu); 01 (một) đoạn ống bằng kim loại có kích thước 6cm; 01 (một) tẩu thủy tinh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (tất cả đã niêm phong), là vật chứng, công cụ liên quan đến tội phạm.

Giao trả tài sản không phải là vật chứng cho chủ sở hữu gồm: Phan Văn N1 01 (một) điện thoại di động Oppo, loại CPH1803; Nguyễn Thị Nguyệt N2 01 (một) điện thoại di động Oppo A93; Phan Ngọc C 01 (một) điện thoại di động Nokia 105, do không liên quan đến tội phạm.

Đối với 0,085gam, loại Methamphetamine trong bọc nylon thu giữ dưới gầm giường tại nhà Lê Tiến N; các bị cáo khai nhận đó là ma túy còn lại tiếp tục sử dụng cho đến khi hết. Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về các tội phạm về ma túy nên hành vi này không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; do đó không xử lý các bị cáo về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với tên Lê Văn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện Vĩnh Cửu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 75/QĐ-XPHC ngày 21/3/2023, là đúng quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên C (chưa rõ họ, địa chỉ) bán ma túy cho nhóm Phan Ngọc C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh tại Công an xã Cây Gáo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và xác minh thông tin chủ số thuê bao số 0376.738.756 nhưng chưa có kết quả. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 và khoản 2 Điều 54 (áp dụng cho bị cáo Phan Văn N và Nguyễn Thị Nguyệt N2) của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Tiến N, Phan Ngọc C, Phan Văn N1 và Nguyễn Thị Nguyệt N2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Bị cáo Lê Tiến N 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2022.

Bị cáo Phan Ngọc C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2022.

Bị cáo Phan Văn N1 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2022.

Bị cáo Nguyễn Thị Nguyệt N2 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2022.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 45, Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 327, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max; 01 (một) điện thoại di động Samsung A51; 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max.

Tịch thu tiêu hủy đối tượng sau giám định trong niêm phong số 2305/KL-KTHS ngày 03/11/2022; 01 (một) bình nhựa, nắp màu xanh lá cây, trên nắp có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa dài 24cm; 02 (hai) hộp quẹt ga (trong đó 01 hộp quẹt đã bị mất đi phần đầu); 01 (một) đoạn ống bằng kim loại có kích thước 6cm; 01 (một) tẩu thủy tinh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (tất cả đã niêm phong).

Trả lại cho Phan Văn N1 01 (một) điện thoại di động Oppo, loại CPH1803; Nguyễn Thị Nguyệt N2 01 (một) điện thoại di động Oppo A93; Phan Ngọc C 01 (một) điện thoại di động Nokia 105.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ