- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HS-ST Ngày: 20/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và Bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hång – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thuyên -Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn M - sinh năm: 1988; HKTT và nơi ở: thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Phạm Văn Tiến – sinh năm: 1964; con bà: Đỗ Thị Thanh – sinh năm: 1964; Có 01 con: sinh năm: 2016; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 02/7/2022 đến ngày 11/7/2022 được hủy biện pháp ngăn chặn tạm giữ; áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn C – sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn XT, xã XK, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị B - sinh năm: 1958 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 02/7/2022, Phạm Văn M- sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú và chỗ ở thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hoà điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-6894 từ nhà đến khu vực Đình thôn Động Phí, xã Phương Tú, huyện Ứng Hoà gặp người đàn ông lái xe ôm không quen biết, M nhờ người đàn ông này mua hộ 500.000 đồng tiền ma tuý, người này đồng ý cầm tiền đi mua. Khoảng 20 phút sau người đàn ông quay lại cầm đưa cho M 01 túi ni lông bên trong có 05 gói ma tuý, M cầm ma tuý và điều khiển xe mô tô đi về đến ngã Ba thôn Kim Giang, xã ĐC thì bị C an xã ĐC đang làm nhiệm vụ tại đây yêu cầu dừng xe kiểm tra, quá trình kiểm tra thu giữ của M có 01 túi ni lông, bên trong có 05 gói có đặc điểm như nhau, kích thước (01 x 0,5)cm, bên ngoài bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có bột màu trắng; tại chỗ M khai nhận là ma tuý, M vừa đi mua về để sử dụng. Lực lượng C an đã cho số ma tuý trên vào phong bì niêm phong và đưa M về trụ sở C an xã ĐC lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn M.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi ni lông, bên trong có 05 gói đều được bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ, kích thước tương tự nhau (01 x 0,5)cm, bên trong các gói đều có bột màu trắng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 38K1-6894;
- 01 điện thoại NOKIA màu vàng.
Ngày 02/7/2022, Cơ quan CSĐT- C an huyện Ứng Hoà ra Quyết định trưng cầu giám định số 130 đối với số ma tuý đã thu giữ trên. Tại bản kết luận giám định số 4824/KLGĐ-PC09 ngày 09/7/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự- C an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 05 gói giấy trắng có dòng kẻ đều là ma tuý, loại Heroin, tổng khối lượng 0,394 gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKS ngày 06 tháng 9 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn M từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, tính từ ngày bắt để thi hành án; được trừ số ngày tạm giữ từ 02/7/2022 đến ngày 11/7/2022. Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định; Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 38K1-6894; Trả lại cho BC 01 điện thoại NOKIA màu vàng; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người liên quan và người làm chứng; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 02/7/2022, Phạm Văn M, ở thôn GT, xã ĐC tàng trữ trái phép 05 gói ma tuý mục đích để sử dụng cho bản thân bị C an xã ĐC, huyện Ứng Hoà kiểm tra bắt quả tang tại thôn Kim Giang, xã ĐC, giám định là Heroine, khối lượng 0,394 gam.
Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn M đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xem xét hình phạt phù hợp nhưng đảm đảm tính nghiêm khắc để giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành M và trở thành C dân có ích cho xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người mua hộ M ma tuý theo M khai là một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,65m, người gầy bản thân M không biết rõ đặc điểm, tên, tuổi, địa chỉ của người này. Việc M đưa tiền nhờ người này mua hộ ma tuý không có ai biết, nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Về xử lý vật chứng: áp dụng quy định tại Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-6894, xác định là của anh Nguyễn Văn C- sinh năm 1973, ở Kỳ Xuân, Kỳ Anh, Hà Tĩnh mua đăng ký sử dụng từ năm 2008, anh C sử dụng khoảng 4 đến 5 năm thì bán cho người thu mua đồng nát không rõ danh tính, địa chỉ. Đầu năm 2022 M mua chiếc xe trên của người không quen biết để sử dụng, khi mua không có giấy tờ gì. Tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Phạm Văn M sử dụng chiếc xe này để đi mua bán ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại NOKIA màu vàng của M không sử dụng vào việc mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 46, 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt Phạm Văn M 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/7/2022 đến ngày 11/7/2022.
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định.
- Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách nhà nước: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-6894.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn M 01 điện thoại NOKIA màu vàng.
(Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa C an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 19/9/2022)
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - C an huyện Ứng Hòa; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hs; V/P./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |