- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quan M và ĐP - tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quan M.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2026/HS-PT Ngày: 15 - 4 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Giàu, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 46/2026/TLPT-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Quan M và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2026/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Quan M, sinh năm 1980 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; CCCD: 087080016999 ngày 09/7/2021. Nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH. Nơi cư trú: ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1934 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1944 (chết); có vợ Trương Ngọc L, sinh năm 1982 và 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cẩm khỏi nơi cư trú.
(bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)
2. Lê Tấn L1, sinh năm 1982 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; CCCD: 087082013495 ngày 19/4/2022. Nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH; Nơi cư trú: ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thành L2, sinh năm 1952 và bà Lữ Thị Kim H, sinh năm 1957; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09/10/2006, bị Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 08/8/2008, bị Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 35/2008/HSST); Ngày 19/11/2008, bị Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt của Bản án số 35/2008/HSST nêu trên là 03 năm tù. Đến ngày 30/8/2010 được đặc xá tha tù; Ngày 18/3/2011, bị Toà án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 19/11/2013, bị Toà án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cẩm khỏi nơi cư trú.
(bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra bản án còn có 04 bị cáo, 21 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, bản án không có kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 23/11/2024, Công an huyện T cũ phối hợp cùng Công an xã P (nay là Công an xã T, tỉnh Đồng Tháp) tiến hành kiểm tra phát hiện quả tang hoạt động đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà và lắc tài xỉu được thua bằng tiền dưới sàn nhà của bà Nguyễn Thị G thuộc ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp D, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Khi phát hiện lực lượng Công an, những người trong tụ điểm đánh bạc bỏ chạy, có nhiều người bỏ chạy thoát, đã mời 08 người có mặt tại hiện trường về để làm việc gồm: Huỳnh Chí C, Phạm Văn C1, Hà Tuấn K, Nguyễn Thị N, Lê Thanh T, Lê Thị T1, Nguyễn Văn N1, Lê Văn H1. Trong 08 người nêu trên, Huỳnh Chí C thừa nhận tổ chức tụ điểm đánh bạc này; có 05 người thừa nhận có hành vi tham gia đánh bạc được thua bằng tiền gồm: Lê Thị T1, Hà Tuấn K, Nguyễn Thị N, Lê Văn H1, Phạm Văn C1; còn Lê Thanh T, Nguyễn Văn N1 không tham gia đánh bạc.
Mở rộng điều tra có thêm 12 người khác thừa nhận có hành vi tham gia đánh bạc được thua bằng tiền ngày 23/11/2024, gồm: Trịnh Minh P, Huỳnh Hoàng N2, Nguyễn Minh L3, Trần Thành N3, Lâm Văn H2, Ngô Văn T2, Lê Tấn L1, Dương Thiết L4, Nguyễn Minh T3, Trần Lộc E, Nguyễn Văn V và Phạm Văn Kim N4. Như vậy, đã chứng minh được tổng cộng 17 người thừa nhận có tham gia đánh bạc được thua bằng tiền.
* Về hành vi Tổ chức đánh bạc: Tụ điểm đánh bạc nêu trên do các bị cáo Nguyễn Quan M, Lê Nhựt T4, Võ Nhựt L5 và Huỳnh Chí C cùng nhau tổ chức để thu tiền xâu, tụ điểm đánh bạc hoạt động từ ngày 20/11/2024 đến ngày 23/11/2024. Hàng ngày có hai hình thức đánh bạc được thua bằng tiền là đá gà và lắc tài xỉu.
Để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 19/11/2024, các bị cáo M, T4 cùng nhau bàn bạc tổ chức địa điểm đánh bạc dưới hình thức đá gà và lắc tài xỉu được thua bằng tiền để thu tiền xâu. Sau khi bàn bạc xong, rủ L5, C cùng tham gia. Bị cáo T4 biết phần đất dưới sàn nhà của bà Nguyễn Thị G (84 tuổi) toạ lạc tại ấp D, xã T, tỉnh Đồng Tháp trống trải và người nhà đi vắng, nên thống nhất chọn địa điểm này tổ chức đánh bạc (không hỏi xin phép chủ nhà) và phân công:
- Các bị cáo Võ Nhựt L5, Lê Nhựt T4 phụ trách quản lý việc tổ chức đá gà, chuẩn bị và cung cấp băng keo, cựa gà, cân đồng hồ cho hoạt động đá gà. Trong đó nhiệm vụ của T4 là: Thuê 03 người (tên T5, H3, P1 – không rõ họ, tên, nhân than, địa chỉ cụ thể) làm nhiệm vụ canh đường, phục vụ, chỉ đường, chỉ chổ để xe; T4 cáp độ gà, cân gà; cùng với các bị can còn lại trông coi, quản lý hoạt động đánh bạc. Nhiệm vụ của L5 là: Hẹn độ gà; làm trọng tài; rủ rê người đến tham gia đánh bạc; lấy tiền xâu và giữ tiền xâu đá gà; trông coi, quản lý hoạt động đánh bạc. Đối với hình thức đá gà, L5 trực tiếp thu tiền xâu và chia cho L5 và T4, nhưng chưa chia được tiền xâu này.
- Các bị cáo Huỳnh Chí C, Nguyễn Quan M phụ trách quản lý việc tổ chức tài xỉu, chuẩn bị chiếu, hộp tiền xâu, ghế nhựa. Nhiệm vụ của C là: Rủ rê người tham gia đánh bạc và nhà cái; sắp xếp ca lắc tài xỉu; trông coi, quản lý hoạt động đánh bạc. Nhiệm vụ của M: Rủ rê người tham gia đánh bạc; Kiểm tra hột xí ngầu; trông coi song bạc và lấy tiền xâu, chi trả chi phí. Từ ngày 20/11/2024 đến ngày 23/11/2024, đã thu được tiền xâu từ hình thức lắc tài xỉu là 2.600.000 đồng. Mẩu đã trả tiền mua công cụ, nước uống phục vụ hoạt động đánh bạc hết 450.000 đồng và đưa bị can Trường 500.000 đồng để trả tiền công thuê 03 đối tượng T5, H3, P1 canh đường. Tổng cộng tiền xâu còn lại mà M đang quản lý 1.650.000 đồng.
Nhằm tránh sự phát hiện, các bị cáo thống nhất giao cho T4 thuê 03 người tên T5, H3, P1 (T4 không rõ nhân thân cụ thể) làm nhiệm vụ canh đường, phục vụ, chỉ đường, chỉ chổ để xe cho những người đến chơi đánh bạc và trả tiền công từ 50.000 đồng – 100.000 đồng/người, bị cáo M đã đưa tiền cho T4 trả tiền thuê 03 người này 02 lần: ngày 21/11/2024 trả công 200.000 đồng và ngày 22/11/2024 trả công 300.000 đồng. Bị can Trường trực tiếp chỉ vị trí cụ thể 03 người ngồi làm nhiệm vụ canh đường, chỉ đường cho những người tham gia đánh bạc vào tụ điểm đánh bạc và trông giữ xe. Ngoài ra, 03 người này còn được T4 phân công nhiệm vụ hàng ngày đến sớm để dọn dẹp địa điểm tổ chức đánh bạc, để sẳn thùng tiền xâu, sắp xếp ghế ngồi cho những người tham gia đánh bạc ngồi chơi; đi mua nước uống, nước đá để phục vụ người đánh bạc; đi mua băng keo đá gà khi T4 và L5 yêu cầu.
Quy ước hình thức chơi lắc tài xỉu như sau: mỗi hột xí ngầu có 06 mặt, mỗi mặt có từ 01 đến 06 nút, người làm cái bỏ 03 hột xí ngầu vào bộ chén đĩa rồi lắc, sau đó các con bạc tham gia đặt cược ăn thua trực tiếp với người làm cái, còn những người tham gia đặt tụ không thắng thua với nhau. Khi người làm cái ra kết quả từ 04 đến 10 điểm gọi là xỉu, từ 11 đến 17 điểm gọi là tài, khi 03 hột xí ngầu có điểm giống nhau thì bảo (03, 06 và 09 điểm là bảo xỉu; 12, 15 và 18 điểm là bảo tài). Khi người lắc kết quả xỉu thì người đặt tiền bên xỉu thắng và ngược lại. Khi người lắc kết quả bảo xỉu thì người lắc thắng hết số tiền bên tài và hòa với bên xỉu. Khi người làm cái lắc ra kết quả bão, thì số tiền mà nhà cái thắng cược được chia đôi với C và M, số tiền này gọi là tiền xâu được để vào 01 thùng xâu tại chiếu bạc (hộp nhựa màu hồng, nắp màu trắng).
Quy ước hình thức chơi đá gà như sau: Mỗi trận gà gồm hai con gà được băng cựa sắt mang ra đá trực tiếp với nhau. Khi nào một trong hai con gà bị thương chết hoặc không thể tiếp tục đá nữa hoặc bỏ chạy thì thua, con gà còn lại thắng. Tùy theo tình trạng khối lượng của hai con gà đá với nhau mà tỉ lệ thắng thua có thể bằng nhau hoặc chênh lệch nhau. Những người tham gia đánh bạc tự thỏa thuận bằng lời nói trực tiếp phóng bắt với nhau hoặc tham gia cá cược thông qua người đá biện. Khi có kết quả thắng thua thì căn cứ thỏa thuận trước đó, người tham gia đánh bạc sẽ tự chung tiền thắng thua cho nhau. Người thắng cược phải nộp tiền xâu 10% trên tổng số tiền thắng cược.
Địa điểm đánh bạc được 04 bị cáo tổ chức và đi vào hoạt động được 04 ngày, từ ngày 20/11/2024 đến ngày bị bắt quả tang là 23/11/2024, thời gian hoạt động: ban ngày từ 09 giờ đến 15 giờ. Hàng ngày có khoảng từ 20 người đến 40 người tham gia đánh bạc. Bị cáo C, M, T4 và L5 thu xâu được tổng số tiền là 2.600.000 đồng, chi trả tiền canh gác, chi phí mua nước uống, mua công cụ phục vụ đánh bạc 950.000 đồng, còn lại 1.650.000 đồng do bị cáo M đang quản lý, chưa chia và đã giao nộp số tiền này trong giai đoạn điều tra.
Ngày 23/11/2024, tụ điểm đánh bạc bắt đầu hoạt động vào khoảng 10 giờ, diễn ra cùng lúc hai hình thức đánh bạc. Lúc này C đến điểm đánh bạc thì ngồi bên ngoài chỉ chổ cho khách đậu xe; Mẩu vào trong tụ điểm đánh bạc thấy hình thức lắc tài xỉu đã bắt đầu chơi nhưng có ít người tham gia (khoảng 8-9 người, không xác định được người lắc cái) nên M đi qua xem chơi đá gà. Tại sân đá gà diễn ra 02 trận: trận thứ nhất do L5 cáp độ, cân gà và làm trọng tài; trong khi trận gà này đang đá thì T4 bên ngoài tiến hành cáp độ, cân gà đợi trận gà thứ nhất đá xong sẽ băng cựa đá, nhưng trận thứ nhất đang đá chưa có kết quả thì Công an vào bắt quả tang.
* Về hành vi đánh bạc: Các bị cáo Lê Thị T1, Lê Tấn L1 đều thừa nhận, đến tụ điểm đánh bạc này tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu 02 lần, do Huỳnh Chí C điện thoại rủ và chỉ đường đến tụ điểm đánh bạc nên L1 và T1 biết, hẹn nhau đến tụ điểm để đánh bạc. Cụ thể như sau:
+ Lần 1: Ngày 22/11/2024, T1 hùn tiền với L1 làm cái lắc tài xỉu tại ca lắc từ 11 giờ đến 12 giờ, trước khi vào lắc T1 và L1 thỏa thuận thống nhất: T1 hùn số tiền 20.000.000 đồng và L1 hùn số tiền 10.000.000 đồng để làm vốn sử dụng đánh bạc với vai trò nhà cái lắc tài xỉu. Trong ca lắc do T1 và L1 thay phiên nhau lắc, Huỳnh Chí C là người làm dĩ (nghĩa là làm nhiệm vụ chung chi tiền). Số người tham gia đánh bạc tại tụ điểm đánh bạc từ 10-20 người, số tiền mỗi ván tài xỉu khoảng 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, những người đặt thường đặt số tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Sau ca lắc, T1 và L1 thắng được số tiền 46.000.000 đồng, T1 đưa cho L1 900.000 đồng để trả tiền công làm dĩ cho bị cáo C 400.000 đồng và tiền ca lắc 500.000 đồng. L1 đưa số tiền này cho một người lạ mặt (chưa xác định được) trong điểm đánh bạc, nhờ người này đưa dùm cho bị cáo C và bị cáo M, nhưng các bị cáo C, M không nhận được tiền. Số tiền 45.100.000 đồng cả hai chia, trong đó T1 31.600.000 đồng, L1 13.500.000 đồng. Như vậy số tiền dùng đánh bạc của T1, L1 và C lần này là 76.000.000 đồng.
+ Lần 2: Ngày 23/11/2024, T1 và L1 tiếp tục hẹn nhau đến tụ điểm để hùn tiền làm nhà cái lắc tài xỉu. Khi đến tụ điểm đánh bạc T1 đem theo số tiền 89.800.000 đồng, trong đó T1 chuẩn bị 29.000.000 đồng để hùn với L1; còn L1 đem theo số tiền 9.000.000 đồng để hùn với T1 để làm vốn tham gia đánh bạc với vai trò nhà cái, ngoài ra L1 còn mang theo 01 bộ dụng dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 01 đĩa sành màu trắng và 01 nắp nhựa màu đỏ có dán băng keo xanh. Khi đến tụ điểm đánh bạc, do chưa đến ca lắc nên L1 đưa 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu cho T1 giữ, rồi L1 đứng xem chơi đá gà, còn T1 ngồi đợi bên ngoài cho đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra, L1 bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc chiếu; tiền Việt Nam 400.000 đồng; 01 nắp nhựa màu xanh có quấn băng keo màu đen; 01 nắp nhựa màu đỏ; 02 dĩa sành màu trắng; 06 hột xí ngầu; 01 hộp nhựa màu hồng, nắp màu trắng; 06 con gà trống đang băng cựa và chưa băng cựa (Công an đã tiêu huỷ); 04 giỏ xách đệm; 04 cặp cựa sắt; 01 cân đồng hồ màu xanh nhãn hiệu Nhơn H4; 10 cuộn băng keo chưa qua sử dụng; 07 ghế nhựa màu đỏ và 07 ghế nhựa màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại RENO 11; Lê Thị T1 giao nộp 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu (01 đĩa sành màu trắng và 01 nắp nhựa màu đỏ có dán băng keo xanh), số tiền Việt Nam 96.510.000 đồng; Nguyễn Quang M1 giao nộp 1.650.000 đồng.
Đối với tiền và tài sản khác thu giữ của những người tham gia đánh bạc, Cơ quan điều tra đã giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2026/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào các điểm a, c, d khoản 1 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025). Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quan M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quan M: 02 (H5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025). Tuyên bố bị cáo Lê Tấn L1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Lê Tấn L1: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt của các bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/01/2026, bị cáo Nguyễn Quan M, bị cáo Lê Tấn L1 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng hoàn cảnh gia đình các bị cáo rất khó khăn, là lao động chính trong gia đình, xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Quan M có ý kiến xin được rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất an ninh trật tự ở khu vực, Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, mức án áp dụng cho các bị cáo là phù hợp, không nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M có ý kiến xin rút yêu cầu kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo M. Đối với kháng cáo của bị cáo L1, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo L1 không bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo L1; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2026/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo L1 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản cáo trạng và bản án sơ thẩm, cụ thể: Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 23/11/2024, Công an huyện T phối hợp với Công an xã P (nay là Công an xã T, tỉnh Đồng Tháp) tiến hành kiểm tra phát hiện quả tang hoạt động đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà và lắc tài xỉu được thắng thua bằng tiền dưới sàn nhà của bà Nguyễn Thị G thuộc ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp D, xã T, tỉnh Đồng Tháp). Bị cáo M cùng với các bị cáo C, T4 và L5 đã tự ý sử dụng phần đất dưới sàn nhà của bà Nguyễn Thị G để tổ chức lắc tài xỉu và đá gà ăn thua bằng tiền, để thu tiền xâu. Khi tổ chức các sòng bạc đã có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, có thuê người làm nhiệm vụ canh gác, cảnh giới lực lượng công an, chỉ đường cho những người tham gia đánh bạc vào địa điểm đánh bạc và phục vụ tại điểm đánh bạc.
Quá trình điều tra bị cáo Lê Tấn L1 đều thừa nhận, đến tụ điểm đánh bạc này tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu 02 lần, do Huỳnh Chí C điện thoại rủ và chỉ đường đến tụ điểm đánh bạc nên L1 và T1 biết, hẹn nhau đến tụ điểm để đánh bạc. Cụ thể như sau: Ngày 22/11/2024 tại ca lắc tài xỉu của các bị cáo T1 và L1, thì bị cáo C giúp sức với vai trò làm dĩ, khi đánh bạc các bị cáo T1, L1 đã chuẩn bị 30.000.000 đồng và thắng được số tiền 46.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà T1, L1 và C đánh bạc là 76.000.000 đồng. Ngày 23/11/2024, T1 và L1 tiếp tục hẹn nhau đến tụ điểm để hùn tiền làm nhà cái lắc tài xỉu. Khi đến tụ điểm đánh bạc T1 đem theo số tiền 89.800.000 đồng, trong đó T1 chuẩn bị 29.000.000 đồng để hùn với L1; còn L1 đem theo số tiền 9.000.000 đồng để hùn với T1 để làm vốn tham gia đánh bạc.
Do đó Toà án cấp sơ thẩm đưa các bị cáo M, L1 và các bị cáo khác ra xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, mất an ninh trật tự tại địa phương, vì cơ bạc là tệ nạn xã hội, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do lười lao động, xem thường pháp luật bị cáo tiếp tục sa vào con đường cờ bạc. Bản thân các bị cáo nhận thức được điều này nhưng vì vụ lợi cá nhân nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó, cho thấy ý thức rất xem thường pháp luật của các bị cáo, không ăn năn hối cải, nên cần xử lý nghiêm mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét mức hình phạt và yêu cầu kháng cáo của bị cáo L1:
Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Lê Tấn L1 03 năm tù là có căn cứ, tương xứng tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không đưa ra các tình tiết giảm nhẹ nào khác. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên.
Đối với bị cáo Nguyễn Quan M trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm cũng như tại phiên tòa bị cáo tự nguyện rút đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quan M.
Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo L1 phải chịu án phí phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Quan M không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quan M.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 01/2026/HS-ST ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quan M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ vào các điểm a, c, d khoản 1 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quan M: 02 (H5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Tuyên bố bị cáo Lê Tấn L1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
Xử phạt bị cáo Lê Tấn L1: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
3. Về án phí phúc thẩm:
Áp dụng điểm a và g khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Tấn L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Quan M không phải chịu án phí phúc thẩm.
4. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Đồng Tháp; - Cơ quan THAHS CA Đồng Tháp - Phòng KTNV và THA (TAT); - TAND khu vực 11 – Đồng Tháp; - VKSND khu vực 11– Đồng Tháp; - Công an xã Tân Thạnh; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Diệp Thúy |