- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 27- 3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh
2. Bà Võ Thị Thu Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, sinh tại: Tỉnh HG; Nơi cư trú: Ấp TQ, xã HT, thành phố VT, tỉnh HG; Chỗ ở: Ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị Ngọc Ph; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị L; con sinh năm 2018.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 10/10/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Bùi Ngọc T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông Phan Minh Th, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
2. Ông Cao Trường T, sinh ngày 19/11/2005; Địa chỉ: Ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 10/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi phối hợp Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính nhà trọ Số 138, đường VTD, ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra đến phòng trọ số 16 do Nguyễn Văn L thuê ở thì phát hiện Nguyễn Văn L và Phan Minh Th đang sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra Công an phát hiện ngay chân tủ lạnh trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu. Tiếp tục kiểm tra, phát hiện trong túi da màu đen để trên gác có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. L khai nhận tinh thể màu nâu trong ống thủy tinh và tinh thể không màu trong gói nylon đều là ma túy đá do L mua về để sử dụng và có cho Th cùng sử dụng. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở L của tại ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ gì. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với L, Th và T đều dương tính với ma túy tổng hợp.
Qua điều tra, Nguyễn Văn L khai bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu tháng 10/2023, loại ma túy đá. Chất ma túy có được là do L mua của người thanh niên (Không rõ lai lịch) tại khu vực cầu Tham Lương thuộc quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. L đã mua ma túy của người thanh niên trên được 02 lần để sử dụng và có cho Phan Minh Th và Cao Trường T cùng sử dụng, cụ thể như sau:
Vào ngày 01/10/2023, L đi đến khu vực cầu Tham Lương gặp người thanh niên (Không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và mang về phòng trọ, lấy một nửa bỏ vào bộ dụng cụ rồi sử dụng cùng với Th và T cho đến hết. Phần ma túy còn lại, Lc ất giấu đến ngày 08/10/2023, mang ra sử dụng cùng với Th và Tcho đến hết.
Tiếp đến, khoảng 16 giờ 00 ngày 09/10/2023, L điện thoại rủ Phan Minh Th đến phòng trọ của L nhậu và sử dụng ma túy đá. Do có việc bận nên Th hẹn sang ngày 10/10/2023. Đến khoảng 06 giờ 00 ngày 10/10/2023, L đi xe buýt đến cầu Tham Lương thuộc quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên (Không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) rồi cho vào túi da màu đen mang về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Th đến phòng trọ của L ngồi chơi. Khoảng 30 phút sau, L lên gác lấy túi da chứa gói ma túy và kêu Th lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu ở cạnh tủ lạnh đem ra để sử dụng. L lấy một phần ma túy cho vào bộ dụng cụ, rồi đốt lên sử dụng và đưa Th cùng sử dụng. Phần ma túy còn lại, L cất vào túi da để trên đầu tủ lạnh. L và Th thay nhau sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, L kêu Th mang bộ dụng cụ còn chất ma túy cất cạnh tủ lạnh, còn L cầm túi da chứa gói ma túy đem lên gác cất giấu. Lúc này, lực lượng Công an vào kiểm tra kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- Thu giữ của L.
+ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu được niêm phong trong 01 gói niêm phong mang số vụ 2202/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas. L dùng để sử dụng chất ma túy và cho Th, T cùng sử dụng chất ma túy.
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 352997099911084. Đây là điện thoại của L, dùng để liên lạc mua chất ma túy.
+ 01 túi sách màu đen L dùng cất giấu ma túy.
- Thu giữ của Th: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số IMEI: 860163041197653 và thu giữ của T: 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số IMEI: 86805705505877. Cơ quan CSĐT Công an huyện Củ Chi đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 179/QĐ ngày 11/10/2023 đối với 02 điện thoại di động hiệu Oppo nêu trên bằng hình thức tách ra khỏi vụ án, bàn giao đến Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi xử lý theo thẩm quyền.
Bản cáo trạng số 21/CT-VKS.CC ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mức án từ 09 (Chín) năm đến 10 (Mười) năm tù; tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 10 (Mười) năm đến 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị:
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 2202/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas do bị cáo L dùng để sử dụng chất ma túy và cho Th, T cùng sử dụng chất ma túy.
+ 01 túi sách màu đen do bị cáo L dùng cất giấu ma túy.
- Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 352997099911084. Đây là điện thoại của bị cáo L, dùng để liên lạc mua chất ma túy.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo L hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xem xét trong vụ án này.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, các quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội:
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 10/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính nhà trọ số 138 đường VTD, ấp TT, xã TTH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra đến phòng trọ số 16 do bị cáo thuê ở thì phát hiện bị cáo và Phan Minh Th đang sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Công an phát hiện ngay chân tủ lạnh trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu và trong túi da màu đen để trên gác có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu của bị cáo. Ngoài ra, vào các ngày 01/10/2023, 08/10/2023, bị cáo tổ chức cho Th và T sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng trọ số 16 do bị cáo thuê ở. Sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo.
Tại Kết luận giám định số 11319 ngày 18/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh giám định chất ma túy kết luận (BL 59):
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5408g (Không phẩy năm bốn không tám gam), loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu nâu trong ống thủy tinh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0168g (Không phẩy không một sáu tám gam), loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, bị cáo L là người mua ma túy, cung cấp, chuẩn bị dụng cụ cho Th cùng sử dụng ma túy vào các ngày 01/10/2023, 08/10/2023, 10/10/2023 và cho T cùng sử dụng ma túy vào ngày 01/10/2023, 08/10/2023. Bên cạnh đó, bị cáo L tổ chức cho T sử dụng ma túy khi T chưa đủ 18 tuổi. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi sử dụng ma túy còn dư, bị cáo đem cất giấu cạnh tủ lạnh trong phòng trọ của bị cáo với tổng khối lượng 0,5576g (Không phẩy năm năm bảy sáu gam) là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Bản thân bị cáo bị nghiện ma túy, cần có thời gian giúp bị cáo cai nghiện tốt.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét về tình tiết tăng nặng không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Văn L một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo L hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 2202/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 quẹt gas do bị cáo L dùng để sử dụng chất ma túy và cho Th, T cùng sử dụng chất ma túy.
+ 01 túi sách màu đen do bị cáo L dùng cất giấu ma túy.
- Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 352997099911084. Đây là điện thoại của bị cáo L, dùng để liên lạc mua chất ma túy.
Tang vật theo lệnh nhập kho vật chứng số 260/LNK-CSĐT-MT ngày 20/11/2023, phiếu nhập kho vật chứng số 260/PNK ngày 20/11/2023 Công an huyện Củ Chi. (BL 61-62)
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có số IMEI: 860163041197653 của Th và 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số IMEI: 86805705505877 của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 179/QĐ ngày 11/10/2023 đối với 02 điện thoại di động hiệu Oppo nêu trên bằng hình thức tách ra khỏi vụ án, bàn giao đến Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi xử lý theo thẩm quyền. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xử lý trong vụ án này. (BL 63)
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 01 (Một) năm tù.
- Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 10/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 2202/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
+ 01 quẹt gas;
+ 01 túi sách màu đen.
- Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số IMEI: 352997099911084 (đã qua sử dụng);
Tang vật theo lệnh nhập kho vật chứng số 260/LNK-CSĐT-MT ngày 20/11/2023, phiếu nhập kho vật chứng số 260/PNK ngày 20/11/2023 Công an huyện Củ Chi. (BL 61-62)
3. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Củ Chi; - Chi cục THADS H.Củ Chi; - PC.53; - Nhà tạm giữ CA H.Củ Chi; - Đội CSĐTTH CA H.Củ Chi; - Sở Tư pháp TPHCM - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Túy Phượng |