- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo H phạm tội "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Minh H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày: 12-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hoàng Quy
2. Ông Phạm Văn Huynh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 27/4/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh H, sinh ngày 01/01/2004 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 1A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: Ấp 1A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Đang học lớp 12 và làm thuê; trình độ học vấn: Đang học lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 (Hai) anh em; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2023, đến ngày 18/01/2023 được huỷ bỏ biện pháp tạm giam. Bị cáo tại ngoại.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh H là học sinh Trường THPT Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, để có tiền tiêu xài, H đã nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán lại cho những người có nhu cầu để kiếm lời. Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 17/01/2023, H đã gặp người đàn ông tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) tại quán Cà phê để nhờ mua giúp pháo nổ. M gọi điện liện hệ một người đàn ông hỏi mua pháo nổ cho bị cáo và được báo giá 1.400.000 đồng/01 hộp thì H đồng ý. H điều khiển xe mô tô biển số 60C1-477.42 đến lô cao su thuộc xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo sự chỉ dẫn của M gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch điều khiển một xe mô tô nhãn hiệu Were màu trắng (không rõ biển số). Tại đây H đưa số tiền 7.000.000 đồng thì người đàn ông trên đưa cho H 05 hộp giấy nhiều màu sắc, có các kích thước 16cmx16cmx10cm, tất cả đều là chữ viết nước ngoài và in dòng chữ KS4-4911. Mỗi hộp giấy bên trong chứa 49 ống pháo hình trụ (đường kính 2,3cm, cao 10cm) có gắn dây cháy chậm. Hoàng cất giấu 02 hộp pháo trong cốp xe mô tô, 03 hộp còn lại H cất giấu trong ba lô màu đen rồi điều khiển xe mô tô về nhà H ở ấp 1A, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đến 10 giờ cùng ngày khi H điều khiển xe mô tô trên đến đoạn đường Quốc lộ 51 thuộc ấp 1B, xã Phước Thái, huyện Long Thành thì bị lực lượng Công an xã Phước Thái phối hợp với Công an huyện Long Thành kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 1081/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phân viện khoa học Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: 05 khối hình chữ nhật, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc ghi chữ KS4-4911, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 09kg.
Tang vật thu giữ:
- 05 hộp giấy nhiều màu sắc, có các kích thước 16cmx16cmx10cm, tất cả đều là chữ viết nước ngoàivà in dòng chữ KS4-4911. Mỗi hộp giấy bên trong chứa 49 ống pháo hình trụ (đường kính 02cm, cáo 10cm) có gắn dây cháy chậm.
- 01 xe mô tô biển số 60C-477.42 do anh Nguyễn Hữu H đứng tên chủ sở hữu, anh H bán lại cho chị Huỳnh Phương T vào năm 2018. Chị T cho H mượn nhưng không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho chị T.
Quá trình tiến hành tố tụng bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tại bản Cáo trạng số: 60/CT-VKS-LT ngày 12/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Minh H để xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị HĐXX:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H số tiền 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
+ Toàn bộ số pháo thu giữ còn lại sau giám định hoàn trong 01 thùng giấy được niêm phong đề nghị tịch thu tiêu huỷ;
+ 01 xe mô tô biển số 60C-477.42 do anh Nguyễn Hữu H đứng tên chủ sở hữu, anh Hiệp bán lại cho chị Huỳnh Phương T vào năm 2018. Chị T cho H mượn nhưng không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho chị T nên đề nghị không xem xét.
- Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông tên M và người đàn ông bán pháo nổ cho bị cáo, không rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh điều tra xử lý sau.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, hiện nay bị cáo đang theo học lớp 12, đồng thời bị cáo cũng đang phụ bán quán để nuôi sống bản thân, lương tháng khoảng 06 đến 08 triệu đồng. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo được hình phạt tiền để bị cáo tiếp tục theo học hành và có cơ hội làm lại cuộc đời. Bị cáo hứa sẽ không còn vi phạm pháp luật lần nào nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Như vậy có đủ cơ sở để xác định:
Lúc 10 giờ ngày 17/01/2023 tại ấp 1B, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Minh H có hành vi mua 09 kilôgam pháo nổ với số tiền 7.000.000 đồng, mục đích nhằm bán lại để kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an xã Phước Thái phối hợp với Công an huyện Long Thành kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Buôn bán hoàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017), như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hiện nay bị cáo đang học lớp 12, bị cáo vừa đi học vừa đi làm có thu nhập ổn định, bị cáo phạm tội lần đầu. Xét thấy cần thiết không phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt bị cáo hình phạt phạt tiền cũng đủ nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
+ Toàn bộ số pháo thu giữ còn lại sau giám định hoàn trong 01 thùng giấy được niêm phong xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ;
+ 01 xe mô tô biển số 60C-477.42 do anh Nguyễn Hữu H đứng tên chủ sở hữu, anh H bán lại cho chị Huỳnh Phương T vào năm 2018. Chị T cho H mượn nhưng không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho chị T nên không xem xét.
Đối với người đàn ông tên M và người đàn ông bán pháo cho bị cáo, không rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh điều tra xử lý sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, 35, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 106, 327, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Minh H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số pháo thu giữ còn lại sau giám định hoàn trong 01 thùng giấy được niêm phong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Long Thành; - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan CSĐT công an huyện Long Thành; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bình |