- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày: 27/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Sáng 2. Ông Phan Tấn Lãm
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Tuấn Anh –Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập và điểm cầu Công an huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991; nơi sinh: Tiền Giang; nơi nơi đăng ký HKTT: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn D (không rõ năm sinh và chỗ ở hiện nay) và bà Võ Thị Thanh H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 01; tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/11/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tuyên phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa đóng án phí và bồi thường dân sự;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị T1, sinh năm 1993; (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước;
Người làm chứng:
- Ông Lê Hoàng T2, sinh năm 2001 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước;
- Ông Phạm Ngọc T3, sinh năm 1993 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 16/4/2023, Nguyễn Thanh T, Phạm Ngọc T3 và Lê Hoàng T2 chơi game tại dịch vụ internet “T" ở Thôn B, xã P, huyện B. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày tất cả nghỉ không chơi nữa, lúc này T rủ T3 và T2 đi sử dụng trái phép chất ma túy thì cả hai đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu xám – ghi (xe không gắn biển kiểm soát) của T3 chở T3, T2 cùng đi. Trên đường đi T nói chưa biết chỗ nào để cùng sử dụng ma túy thì T2 nói chạy vào tổ A thuộc xã P, huyện B để sử dụng ma túy. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe chở T2, T3 đi vào chòi thu mua mủ cao su bên đường thuộc tổ A, xã P rồi dừng lại, tất cả vào trong chòi. Tại đây, T lấy trong túi quần bên phải ra 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, bên trong đã có sẵn ma túy và 01 cái bật lửa có gắn tim để đốt rồi đắt xuống dưới đất; lúc này T2 và T3 mỗi người lấy 01 gói thuốc lá và 01 bật lửa ga ra rồi để xuống dưới đất. T lấy bật lửa ga để ở dưới đất đốt cháy tim bật lửa của T, sau đó T dùng tim bật lửa đang cháy đốt cháy số ma túy để trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi T, T3 và T2 cùng nhau sử dụng (hít khói ma túy đang cháy). Sau khi T, T3 và T2 sử dụng ma túy xong, thì cơ quan Công an phát hiện, lập biên bản bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy tự chế (01 chai nước không rõ hình ở dưới bằng thủy tinh, ở trên bằng nhựa có dùng băng keo màu đen để nối lại, nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, 01 lỗ gắn 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh một đầu hình móc câu, một đầu gắn với đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng); 01 cái bật lửa ga có gắn tim dùng để sử dụng ma túy, 02 cái bật lửa ga; 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xám - ghi đã qua sử dụng (xe không gắn biển kiểm soát).
Bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy tự chế (01 chai nước không rõ hình ở dưới bằng thủy tinh, ở trên bằng nhựa có dùng băng keo màu đen để nối lại, nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, 01 lỗ gắn 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh một đầu hình móc câu, một đầu gắn với đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng); 01 bật lửa có gắn tim dùng để sử dụng ma túy, 02 cái bật lửa ga là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xám – ghi. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của Trần Thị T1 (vợ của Phạm Ngọc T3) có biển kiểm soát 93H1- 252.56; ngày 16/4/2023, T3 lấy xe mô tô đi chơi game và sử dụng chiếc xe này để đi sử dụng ma túy, T1 không biết, do đó đề nghị trả lại xe cho T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo:
Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 16/4/2023, Nguyễn Thanh T chuẩn bị ma túy và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T rủ Phạm Ngọc T3 và Lê Hoàng T2 đi vào chòi thu mua mủ cao su ở tổ A, xã P, huyện B và cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo với những quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm đến chính sách độc quyền trong quản lý Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bị cáo biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hànhvi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 26/11/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long tuyên phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính, tuy nhiên bị cáo chưa đóng án phí và chưa bồi thường dân sự trong bản án nên chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đ điện Viện kiểm sát đề nghị xử lý tang vật và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Lê Hoàng T2 và Phạm Ngọc T3 chỉ là người sử dụng trái phép chất ma túy; T2, T3 không thực hiện các hành vi chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm và đưa chất ma túy vào cơ thể người khác, do đó hành vi của T2, T3 không đồng phạm với Nguyễn Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 10/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hoàng T2 và ngày 14/8/2023, Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc T3 với số tiền 1.500.000 đồng nên không đề nghị xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng T4 là người cho Toàn bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng T4 và đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với Đối với 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy tự chế (01 chai nước không rõ hình ở dưới bằng thủy tinh, ở trên bằng nhựa có dùng băng keo màu đen để nối lại, nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, 01 lỗ gắn 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh một đầu hình móc câu, một đầu gắn với đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng); 01 bật lửa có gắn tim dùng để sử dụng ma túy, 02 cái bật lửa ga là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xám – ghi, có biển kiểm soát 93H1- 252.56, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của Trần Thị T1 (vợ của Phạm Ngọc T3). Ngày 16/4/2023, T3 lấy xe mô tô đi chơi game và sử dụng chiếc xe này để đi sử dụng ma túy, T1 không biết, do đó cần trả lại xe cho T1.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (T5) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16/4/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy tự chế (01 chai nước không rõ hình ở dưới bằng thủy tinh, ở trên bằng nhựa có dùng băng keo màu đen để nối lại, nắp màu đỏ có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, 01 lỗ gắn 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh một đầu hình móc câu, một đầu gắn với đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng); 01 bật lửa có gắn tim; 02 cái bật lửa ga.
- Trả lại xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xám – ghi, có biển kiểm soát 93H1- 252.56 cho bà Trần Thị T1.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước)
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập; - Công an huyện Bù Gia Mập; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết |