vanban.org

Bản án 66/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trong D 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/6/2021. Về vật chứng: Căn cứ các Điểm a, c Khoản 1, Khoản 3 Điều 47 - BLHS; các Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng D - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THÁI HOÀ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2021/HS-ST
Ngày 26 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà. Phan Thị Thanh Thủy

2. Bà. Phan Thị Hương Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Văn Đức Châu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2021/QĐXXST-HS ngày 16/11/2021, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trọng D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 31 tháng 10 năm 1987, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; nguyên quán: Xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trọng H (chết), con bà Hoàng Thị K, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 31/5/2019, bị TAND thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xử phạt 22 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 37/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2020.

Nhân thân: Ngày 24/10/2007 bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 89/2007/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2012.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2021 đến nay (có mặt).

- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trương Minh T , sinh năm 1999;

Trú tại: Xóm Đ, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)

+Anh Đặng Quang T, sinh năm 1986.

Trú tại: Khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

+ Anh Hồ Trung L, sinh năm 1983;

Trú tại: Xóm Đ, xã N, thị xã T, Nghệ An (vắng mặt; có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Anh Phạm Thanh H, sinh năm 1989;

Trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện Ng, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt; có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Bà Hoàng Thị K, sinh năm 1956;

Trú tại: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An (có mặt).

- Ngƣời làm chứng:

+Chị Nguyễn Nữ Hà N, sinh năm 1993

Trú tại: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

- Ngƣời chứng kiến:

Chị Đặng Thị S, sinh năm 1975

Trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện Ng, tỉnh Nghệ An.

Anh Tống Nguyên Ư, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Trú tại: Khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Trương Minh T là bạn của Nguyễn Trọng D, vào khoảng 10 giờ ngày 14/6/2021 T đến gặp D, sau đó D đưa T đến khách sạn S thuộc khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An để thuê phòng nghỉ, khi đến khách sạn D đưa cho T số tiền 200.000 đồng để T đặt cọc tiền phòng, sau đó T đã thuê phòng 108 của khách sạn S còn Nguyễn Trọng D đi về nhà chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy đá. D lấy 02 ống thủy tinh, trong đó 01 ống đã được uốn cong, một đầu được thổi hình bầu dục là phểu (thường gọi là Cóng mà D mua trước đó của một người không quen biết); 02 ống hút bằng nhựa, trong đó 01 ống màu tím, bên ngoài kẻ sọc trắng và 01 ống màu xanh; 01 thanh kim loại; 02 bình gas mini; 01 khò gas và 01 bật lửa gas. Sau khi đã chuẩn bị các công cụ trên, D đưa đến phòng nghỉ 108 khách sạn S, tại đây D lấy 01 chai nhựa màu trắng nhãn hiệu TH loại 500ml đã qua sử dụng ở trong phòng đục 02 lỗ trên nắp chai rồi lắp chiếc cóng thủy tinh và vòi nhựa màu xanh vào 02 lỗ đã đục để tạo nên một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, tiếp đó D lấy chiếc bình gas mini và khò gas để tạo lửa uống cong và tạo hình bầu dục (phểu) của ống thủy tinh còn lại. Sau khi tạo xong bộ dụng cụ sử dụng ma túy, D và T ngủ lại phòng 108 khách sạn S. Đến khoảng 12 giờ ngày 15/6/2021, vì muốn có ma túy để sử dụng, Nguyễn Trọng D đã điện thoại cho em giái mình là chị Nguyễn Thị Hà N hỏi vay số tiền 1.000.000 đồng để lo công việc riêng thì được chị N đồng ý cho vay đồng thời chuyển vào tài khoản của D. Vay được tiền, Du đi rút tiền và đón xe Taxi đi xuống khu vực Tuần thuộc xã Q, huyện L, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Tại đây, D gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua được một gói ma túy đá với giá 300.000 đồng được đựng trong túi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm bên trong có các hạt tinh thể trong suốt. Sau khi mua được ma túy, D cất dấu trong người rồi đi xe Taxi về khách sạn S, do phòng 108 của khách sạn không sạch, nên D và T đã đổi lên phòng 209 của khách sạn, khi đổi phòng D đã đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên phòng 209. Tại đây, D lấy một phần ma túy vừa mua được bỏ vào chiếc cóng đã gắn với chai nước để sử dụng, số ma túy còn lại D bỏ vào trong ống hút nhựa màu tím, bên ngoài có kẻ sọc trắng rồi dùng bật lửa gas đốt bịt kín hai đầu của ống nhựa. Sau đó D rũ Trương Minh T cùng sử dụng ma túy với D thì T đồng ý, cả hai ngồi sử dụng hết số ma túy mà D vừa bỏ vào chiếc cóng trước đó. D tiếp tục lấy một phần số ma túy trong chiếc ống hút nhựa đổ vào chiếc cóng khác gắn vào chai nước thay thế cho chiếc cóng vừa sử dụng xong, số ma túy còn lại D tiếp tục dùng bật lửa gas đốt bịt kín ống nhựa và để trên bàn ở giữa phòng nghĩ nhằm mục đích để sử dụng tiếp. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đặng Quang T là người nghiện chất ma túy chơi thân với D gọi điện thoại hỏi D đang ở đâu để đến chơi thì D bảo đang ở phòng 209 khách sạn S đồng thời rũ T đến cùng sử dụng ma túy thì T đồng ý. T bắt xe Taxi đến phòng 209 khách sạn S, khi vào phòng T thấy có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên bàn trong phòng khách sạn, D nói với T đi đến chiếc bàn nơi có dụng cụ chứa chất ma túy rồi cả T và D cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/6/2021, D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6Plus màu vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0905.310.249 của bà Hoàng Thị K (là mẹ của D) mà D mượn trước đó điện thoại cho Phạm Thanh H để hỏi vay tiền thì H đồng ý cho D vay số tiền 1.000.000 đồng để công việc riêng, khoảng 30 phút sau Hải đến phòng 209 khách sạn S thì gặp D, T và T đồng thời thấy ở trên bàn trong phòng có bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên H xin D cùng sử dụng ma túy chung thì được D đồng ý, cả D và H tiếp tục sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 15/6/2021, D tiếp tục lấy điện thoại gọi cho Hồ Trung L hỏi vay số tiền 300.000 đồng để công việc thì được L đồng ý cho vay đồng thời D rũ L đến phòng 209 khách sạn S chơi. Do trước đây đã cùng sử dụng ma túy với nhau nên L hiểu D gọi điện rũ đến để chơi ma túy, một lúc sau L đến phòng 209 thì được D rủ L cùng sử dụng ma túy, cả hai ngồi sử dụng ma túy chung với nhau tại phòng 209 khách sạn S.

Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày 15/6/2021, tổ công tác Công an thị xã Thái Hòa kiểm tra hành chính phòng 209 khách sạn S thì phát hiện trong phòng có các đối tượng nêu trên, trên bàn có 01 chai nhựa nhãn hiệu TH loại 500ml, trên nắp chai có đục 02 lỗ, một lỗ được gắn với 01 ống hút bằng nhựa màu xanh, lỗ còn lại được gắn với 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu được thổi hình bầu dục (hay còn gọi là Phểu) đã nứt vở, bên trong hình bầu dục có bám dính chất màu trắng đục nghi là ma túy, không xác định được khối lượng là bộ dụng cụ mà D chuẩn bị trước đó để sử dụng ma túy đá; 01 bật lửa gas; 01 thanh kim loại; 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu được thổi hình bầu dục (là Phểu) đã nứt vở, bên trong hình bầu dục có bám dích chất màu trắng đục nghi là ma túy, không xác định được khối lượng; 02 bình gas mini; 01 khò gas; 01 đoạn ống nhựa màu tím, bên ngoài kẻ sọc trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trong suốt nghi là ma túy tổng hợp; 01 gói nilon trong suốt, kích thước (2x2)cm bên trong không chứa gì; thu giữ của Nguyễn Trọng D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6Plus màu vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0905.310.249 và số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng); thu giữ của Trương Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 5s, màu trắng có gắn thẻ sim số thuê bao 0365.548.707; thu giữ của Phạm Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu đen có gắn thẻ sim số thuê bao 0367.901.912. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội đối với Nguyễn Trọng D đồng thời thu giữ và niêm phong các vật chứng nêu trên theo đúng quy định.

Tại các biên bản xét nghiệm chất ma túy lập ngày 16/6/2021 tại trụ sở Công an thị xã Thái Hòa và Trạm y tế phường Hòa Hiếu (bằng hình thức tét nước tiểu) đối với Nguyễn Trọng D, Trương Minh T, Đặng Quang T, Phạm Thanh H và Hồ Trung L đều cho kết quả: Dương tính với ma túy nhóm OPIAT và ATS.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại ngày 16/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Thái Hòa đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng D đã xác định: 01 ống nhựa màu tím bên ngoài kẻ sọc trắng kích thước (4x,05)cm, hai đầu được bịt kín, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trong suốt. Sau khi loại bỏ bao bì số hạt tinh thể màu trong suốt có khối lượng 0,12g (Không phẩy mười hai gam). Hội đồng đã lấy 0,05g (không phẩy không năm gam) và chất bám dính trong 02 ống thủy tinh đã uốn cong, một đầu có hình bầu dục (đã bị rạn vở) thu giữ của Nguyễn Trọng D gửi giám định, số vật chứng còn lại được niêm phong theo đúng quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 1023/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 21/6/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

Mẫu các hạt tinh thể trong suốt thu giữ của Nguyễn Trọng D gửi giám định là ma túy (Methamphetamine).

Chất bám dính trong 02 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có hình bầu dục (đã bị vở) thu giữ của Nguyễn Trọng D gửi giám định là ma túy (Methamphetamine).

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Nguyễn Trọng D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 255 - BLHS.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 - BLHS:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 - BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) ống nhựa màu tím bên ngoài kẻ sọc trắng kích thước (4x,05)cm, hai đầu được bịt kín, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trong suốt là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 0,12g (Không phẩy mười hai gam). Đã lấy 0,05g (không phẩy không năm gam) gửi giám định, số vật chứng còn lại 0,07g (không phẩy không bảy gam) ma túy (Methamphetamine) được niêm phong theo đúng quy định chờ xử lý.

- 01 (Một) chai nhựa nhãn hiệu TH loại dung tích 500ml, trên nắp chai có đục 02 lỗ, một lỗ có gắn với một ống hút bằng nhựa màu xanh.

- 02 (Hai) ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có hình bầu dục (đã bị vở), bên trong hình bầu dục có bám dích chất màu trắng đục là ma túy (Methamphetamine).

- 01 (Một) thanh kim loại có kích thước dài 05cm, đường kính 0,1cm.

- 01 bật lữa gas màu đỏ, thân bật bằng nhựa có in chữ số “555 VIP”.

- 02 (Hai) bình ga mini, một bình màu đỏ trên thân bình có dòng chữ “Max Vina”, một bình màu vàng, trên thân bình có dòng chữ “2s Double safty”.

- 01 (Một) chiếc khò gas, một đầu được làm bằng nhựa có núm vặn màu cam, một đầu được làm bằng kim loại dạng ống;

Do các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 47 - BLHS tuyên: Tịch thu hóa giá 02 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 5s, màu trắng có gắn thẻ sim số thuê bao 0365.548.707 thu giữ của Trương Minh T và 01 điện thoại nhãn hiệuVIETTEL màu đen có gắn thẻ sim số thuê bao 0367.901.912 thu giữ của Phạm Thanh H do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo vì đã sử dụng liên lạc với bị cáo trong việc sử dụng ma túy.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6Plus màu vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0905.310.249 thu giữ của Nguyễn Trọng D; Đây là tài sản riêng của bà Hoàng Thị K mà D mượn trước đó, việc D sử dụng vào việc phạm tội thì bà K không biết và Số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Trọng D. Đây là số tiền do D vay mượn được mà có, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Vật chứng khác là 02 chiếc điện thoại di động của Đặng Quang T và Hồ Trọng L dùng để liên lạc với Nguyễn Trọng D trong việc sử dụng ma túy. Sau khi liên lạc xong, các đối tượng để ở nhà mà không mang theo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và người chứng kiến không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 30 phút ngày 15/6/2021 tại phòng 209 khách sạn S thuộc Khối Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An cùng vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được: Sau khi đã chuẩn bị xong một bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và đi xuống khu vực Tuần thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để mua một gói ma túy loại (Methamphetamine) với giá 300.000 đồng; Nguyễn Trọng D đã đưa về phòng 209 khách sạn S để sử dụng và trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 22 giờ 30 phút ngày 15/6/2021 Nguyễn Trọng D đã có hành vi thông báo địa điểm, cung cấp ma túy và công cụ sử dụng để Trương Minh T, Đặng Quang T, Phạm Thanh H và Hồ Trung L cùng sử dụng trái phép chất ma túy với D; Số ma túy (Methamphetamine) còn lại là 0,12 gam khi kịp chưa sử dụng hết thì bị bị Công an thị xã Thái Hòa phát hiện bắt quả tang. Nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Trọng D đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 255 - BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tác hại cho sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi tổ chức cho người khác dụng trái phép chất ma tuý là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xét xử nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ từng hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 37/2019/HSST ngày 31/5/2019 của TAND thị xã Thái Hòa; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2020 nên đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên cũng cân xem xét cho bị cáo quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và đã có thành tích tích cực hợp tác với Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa trong việc phát hiện tội phạm theo Công văn số 113/CQCSĐT ngày 27/10/2021 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51

- BLHS

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo Biên bản xác minh nguồn thu nhập ngày 22/6/2021 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Vật chứng vụ án gồm:

- 01 (Một) ống nhựa màu tím bên ngoài kẻ sọc trắng kích thước (4x,05)cm, hai đầu được bịt kín, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trong suốt là ma túy (Methamphetamine), còn lại có khối lượng 0,7g (Không phẩy không bảy gam). Đã lấy 0,05g (không phẩy không năm gam) gửi giám định và sử dụng hết trong quá trình giám định.

01 (Một) chai nhựa nhãn hiệu TH loại dung tích 500ml, trên nắp chai có đục 02 lỗ, một lỗ có gắn với một ống hút bằng nhựa màu xanh.

- 02 (Hai) ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có hình bầu dục (đã bị vở), bên trong hình bầu dục có bám dích chất màu trắng đục là ma túy (Methamphetamine).

- 01 (Một) thanh kim loại có kích thước dài 05cm, đường kính 0,1cm.

- 01 bật lữa gas màu đỏ, thân bật bằng nhựa có in chữ số “555 VIP”.

- 02 (Hai) bình ga mini, một bình màu đỏ trên thân bình có dòng chữ “Max Vina”, một bình màu vàng, trên thân bình có dòng chữ “2s Double safty”.

- 01 (Một) chiếc khò gas, một đầu được làm bằng nhựa có núm vặn màu cam, một đầu được làm bằng kim loại dạng ống. Xét đây là những công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng và vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy theo các điểm a, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.

* Vật chứng là 02 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 5s, màu trắng có gắn thẻ sim số thuê bao 0365.548.707 thu giữ của Trương Minh T và 01 điện thoại nhãn hiệuVIETTEL màu đen có gắn thẻ sim số thuê bao 0367.901.912 thu giữ của Phạm Thanh H. Xét đây là các vật chứng do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo vì đã sử dụng liên lạc với bị cáo trong việc sử dụng ma túy nên tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước theo khoản 3 Điều 47 - BLHS.

* Đối với vật chứng là 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6Plus màu vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0905.310.249 và số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Trọng D; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được chiếc điện thoại là tài sản riêng của bà Hoàng Thị K (mẹ của D) mà D mượn trước đó, việc D sử dụng vào việc phạm tội thì bà K không biết và Số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) thu giữ của D là số tiền do D vay mượn mà có, không liên quan đến việc phạm tội của D nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 38, 39 ngày 21/6/2021 là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

* Vật chứng khác là 02 chiếc điện thoại di động của Đặng Quang T và Hồ Trọng L dùng để liên lạc với Nguyễn Trọng D trong việc sử dụng ma túy. Sau khi liên lạc xong, các đối tượng để ở nhà mà không mang theo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi tàng trữ 0,12 gam ma túy (Methamphetamine) của Nguyễn Trọng D được đựng trong 01 (Một) ống nhựa màu tím bên ngoài kẻ sọc trắng kích thước (4x,05)cm, hai đầu được bịt kín đã bị thu giữ khi bắt quả tang hành vi phạm tội của bị các. Xét đây là số ma túy còn lại nhằm mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy, khi chưa kịp sử dụng hết thì bị phắt hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi trên không cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Trương Minh T không có sự bàn bạc, không tham gia vào việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm để sử dụng trái phép chất ma túy với D. Vì vậy, không đồng phạm với Nguyễn Trọng D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Trương Minh T, Đặng Quang T, Phạm Thanh H và Hồ Trung L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi không cấu thành tội phạm. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tại khu vực Tuần xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đã bán ma túy cho Nguyễn Trọng Du để Du tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do chưa xác định được danh tính, lai lịch cụ thể nên chưa có căn cứ để xử lý, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa tách ra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sẽ xử lý theo quy định.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 255; các Điểm s, t Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 (tái phạm) Điều 38 - BLHS:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trong D 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/6/2021.

Về vật chứng: Căn cứ các Điểm a, c Khoản 1, Khoản 3 Điều 47 - BLHS; các Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (Một) ống nhựa màu tím bên ngoài kẻ sọc trắng kích thước (4x,05)cm, hai đầu được bịt kín, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trong suốt là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,7g (Không phẩy không bảy gam).

+ 01 (Một) chai nhựa nhãn hiệu TH loại dung tích 500ml, trên nắp chai có đục 02 lỗ, một lỗ có gắn với một ống hút bằng nhựa màu xanh.

+ 02 (Hai) ống thủy tinh được uốn cong, một đầu có hình bầu dục (đã bị vở), bên trong hình bầu dục có bám dích chất màu trắng đục là ma túy (Methamphetamine).

+ 01 (Một) thanh kim loại có kích thước dài 05cm, đường kính 0,1cm.

+ 01 bật lữa gas màu đỏ, thân bật bằng nhựa có in chữ số “555 VIP”.

+ 02 (Hai) bình ga mini, một bình màu đỏ trên thân bình có dòng chữ “Max

Vina”, một bình màu vàng, trên thân bình có dòng chữ “2s Double safty”.

+ 01 (Một) chiếc khò gas, một đầu được làm bằng nhựa có núm vặn màu

cam, một đầu được làm bằng kim loại dạng ống.

- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại gồm:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 5s, màu trắng có gắn thẻ sim số thuê bao 0365.548.707 thu giữ của Trương Minh T.

+ 01 điện thoại nhãn hiệuVIETTEL màu đen có gắn thẻ sim số thuê bao 0367.901.912 thu giữ của Phạm Thanh H.

Các tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 10 năm 2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hoà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.

- Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị các có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ