- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng S - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 - Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2021/HS-ST Ngày: 07/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên và Ông Đào Ngọc Khải.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang, là Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Triều - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2021/TLST-HS ngày 07/5/2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Bị cáo: Vũ Hồng S
Sinh năm 1975.
HKTT: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Vũ Hồng Th - Sinh năm: 1930.
Con bà: Nguyễn Thị Minh S- Sinh năm: 1943.
Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai.
Vợ: Đỗ Thị Đ - Sinh năm 1977.
Bị cáo có 02 con đều sinh năm 2003 (sinh đôi).
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2020 đến ngày 08/02/2021 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1977; Địa chỉ: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Vũ Văn Hiếu, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn D, xã E, huyện F, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại Cửa hàng tạp hóa Hồng S thuộc thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên do Vũ Hồng S, sinh năm 1975 làm chủ có hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất. Khoảng 14 giờ cùng ngày, tại Cửa hàng tạp hóa Hồng S, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện Vũ Hồng S đang bán 01 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD cho đối tượng tự khai là Phạm Văn C, sinh năm 1995, trú tại xã G, huyện H, tỉnh Hưng Yên với giá 35.000 đồng. S đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 3.730 bao thuốc lá điếu các loại còn nguyên cây, nguyên bao, trên bao bì chỉ in chữ nước ngoài, không có chữ Việt Nam, gồm: 3.720 bao thuốc lá điếu các loại còn nguyên cây và 10 bao thuốc lá điếu lẻ (trong đó có 01 bao S đang bán cho C), cụ thể gồm: 1955 bao (195 cây và 05 bao lẻ) nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD; 755 bao (75 cây và 05 bao lẻ) nhãn hiệu BLEND No.555 ORIGINAL; 100 bao (10 cây) nhãn hiệu BLEND No.555 MANDARIN; 300 bao (30 cây) nhãn hiệu ESSE Lights; 110 bao (11 cây) nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD; 210 bao (21 cây) nhãn hiệu JET; 230 bao (23 cây) nhãn hiệu ZOUK và 70 bao (07 cây) nhãn hiệu HERO, được niêm phong trong 13 thùng caton theo quy định.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Hồng S tại cửa hàng tạp hóa Hồng S, Cơ quan điều tra đã thu giữ tổng số 810 bao thuốc lá điếu các loại còn nguyên cây, trên bao bì chỉ in chữ nước ngoài, không có chữ Việt Nam, bao gồm: 480 bao (48 cây) nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD và 330 bao (33 cây) nhãn hiệu BLEND No.555 ORIGINAL, được niêm phong trong 02 thùng catton theo quy định.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ: Khoảng đầu tháng 12/2020, Vũ Hồng S đang ở cửa tạp hóa của mình tại thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên thì có hai nam thanh niên đeo khẩu trang đến, một người tự giới thiệu tên là “Tr” nói có lô hàng là thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 08 nhãn hiệu các loại và đều là loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao, trên bao bì chỉ in chữ nước ngoài, không có chữ Việt Nam, không dán tem nhập khẩu) muốn bán cho S. Do có nhu cầu mua thuốc lá điếu nhập lậu để bán kiếm lời vào dịp tết Nguyên đán năm 2021, nên S đã đồng ý mua 4.550 bao (455 cây) thuốc lá điếu nhập lậu mang các nhãn hiệu gồm: Nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD, BLEND No.555 ORIGINAL và BLEND No.555 MANDARIN, với giá 300.000 đồng/cây; Loại nhãn hiệu ESSE Lights và ESSE SPECIAL GOLD, với giá 220.000 đồng/cây; Loại nhãn hiệu JET, với giá 210.000 đồng/cây; Loại nhãn hiệu ZOUK, với giá 180.000 đồng/cây; Loại nhãn hiệu HERO, với giá 160.000 đồng/cây và thỏa thuận hai ngày sau Tr sẽ mang đến bán số thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên cho S vào buổi trưa, nhằm tránh bị phát hiện của cơ quan chức năng, đồng thời S và Tr thống nhất không tiến hành đặt cọc mà hẹn khi giao hàng, S sẽ trực tiếp kiểm tra hàng và thanh toán tiền. Theo như đã hẹn hai ngày sau, vào buổi trưa hai nam thanh niên trên điều khiển xe ôtô tải (S không nhớ biển số xe) đến cửa hàng bán cho S 455 cây thuốc lá điếu nhập lậu các loại, gồm 08 nhãn hiệu thuốc lá điếu nêu trên và đều là loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao với tổng số tiền là: 127.590.000 đồng, cụ thể gồm: 244 cây nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD x 300.000 đồng/cây = 73.200.000 đồng; 109 cây nhãn hiệu BLEND No.555 ORIGINAL x 300.000 đồng/cây = 32.700.000 đồng; 10 cây nhãn hiệu BLEND No.555 MANDARIN x 300.000 đồng/cây = 3.000.000 đồng; 30 cây nhãn hiệu ESSE Lights x 22.000 đồng/cây = 6.600.000 đồng; 11 cây nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD x 22.000 đồng/cây = 2.420.000 đồng; 21 cây nhãn hiệu JET x 21.000 đồng/cây = 4.410.000 đồng; 23 cây nhãn hiệu ZOUK x 18.000 đồng/cây = 4.140.000 đồng và 07 cây nhãn hiệu HERO x 16.000 đồng/cây = 1.120.000 đồng. Toàn bộ số thuốc lá điếu trên, được S đưa vào các vỏ thùng caton đựng bánh kẹo, để ở nhiều vị trí trong cửa hàng và thanh toán trả cho Tr tổng số tiền là: 127.590.000 đồng. Sau khi mua được số thuốc lá điếu nêu trên, S đã bán được 10 bao thuốc lá điếu cho một số người không biết tên, địa chỉ (gồm: 05 bao nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD và 05 bao nhãn hiệu BLEND No.555 ORIGINAL), với giá 35.000 đồng/bao thu được tổng số tiền 350.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ ngày 18/12/2020, khi S đang bán 01 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD với giá 35.000 đồng cho Phạm Văn C, nhưng chưa kịp nhận tiền của C thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ toàn bộ số thuốc lá điếu nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 9195/PC09-P4 ngày 19/12/2020, của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đã kết luận: Toàn bộ 4.540 bao thuốc lá điếu gửi giám định (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc) đều không dán tem nhập khẩu, không có chữ tiếng việt, đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang các nhãn hiệu: BLEND No.555 ORIGINAL; BLEND No.555 GOLD; BLEND No.555 MANDARIN; ESSE Lights; ZOUK; JET; ESSE SPECIAL GOLD và HERO, cùng loại với mẫu thuốc lá so sánh, được sản xuất tại nước ngoài và không được tiêu thụ tại Việt Nam.
Đối với hai nam thanh niên đã bán số thuốc lá điếu nhập lậu trên cho Vũ Hồng S: Quá trình điều tra, S khai nhận khi hai nam thanh niên đến cửa hàng của S luôn đeo khẩu trang, trong đó một người tự giới thiệu tên là “Tr”, S không biết họ tên, địa chỉ và không nhận dạng được các đối tượng này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không có căn cứ làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tự khai tên Phạm Văn C, sinh năm 1995, trú tại: xã G, huyện H, tỉnh Hưng Yên. Sau khi Cơ quan điều tra ghi lời khai, C đã tự ý bỏ đi. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ làm rõ, để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với các đối tượng đã mua của S 10 bao thuốc lá điếu nhập lậu: Quá trình điều tra, S khai nhận đều là khách vãng lai, không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ làm rõ, để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-P3 ngày 06/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, truy tố các bị cáo Vũ Hồng S đều bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H-ưng Yên truy tố về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Vũ Hồng S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng S 1.000.000.000đ đến 1.200.000.000đ; Ngoài ra, VKS còn đề nghị xử lý vật chứng và một số nội dung khác theo quy định.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản vụ việc, biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định số 9195/PC09-P4 ngày 19/12/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, phù hợp khách quan với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Với động cơ mục đích thu lời bất chính, vào khoảng tháng 12/2020 tại cửa hàng tạp hóa Hồng S của Vũ Hồng S ở thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên. Vũ Hồng S đã mua 4.550 bao thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm, gồm các nhãn hiệu: 2.440 bao BLEND No.555 GOLD; 1.090 bao BLEND No.555 ORIGINAL; 100 bao BLEND No.555 MANDARIN; 300 bao ESSE Lights; 230 bao ZOUK; 210 bao JET; 110 bao ESSE SPECIAL GOLD và 70 bao HERO, với tổng số tiền là: 127.590.000 đồng. Sau đó, S đã bán được 10 bao thuốc lá điếu cho các đối tượng không biết tên, địa chỉ với giá 35.000 đồng/bao thu được số tiền là 350.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ ngày 18/12/2020, khi S đang bán 01 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No.555 GOLD cho Phạm Văn C với giá 35.000 đồng, thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ toàn bộ 4.540 bao thuốc lá điếu nhập lậu còn lại nêu trên.
Theo Luật Phòng chống tác hại thuốc lá số 09/2012/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2013 tại Khoản 1, Điều 9 (các hành vi bị nghiêm cấm): Sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao, gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu. Kinh doanh, bán buôn/bán lẻ thuốc lá là một trong những lĩnh vực hạn chế kinh doanh, việc nhập khẩu thuốc lá lậu về kinh doanh tại Việt Nam sẽ bị pháp luật xử lý dưới tội danh buôn lậu. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép thuốc lá với động cơ, mục đích vụ lợi. Tổng khối lượng 4.540 bao thuốc lá điếu nhập lậu nên bị cáo Vũ Hồng S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm, với tình tiết định khung: “Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên” được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Vũ Hồng S là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với thuốc lá điếu nhập lậu. Đây là loại hàng hoá mà Nhà nước cấm, không cho phép buôn bán, tiêu thụ tại Việt Nam nhưng vì động cơ, mục đích thu lời bất chính bị cáo đã bất chấp các quy định cấm của Nhà nước đối với thuốc lá điếu nhập lậu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử và dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện, xử lý tội phạm. Cụ thể: ngày 15/4/2021 bị cáo đã đến Công an huyện M, tỉnh Hưng Yên tố giác nhóm đối tượng nghiện ma túy chuyên trộm cắp tài sản, từ nguồn tin do S cung cấp, Công an huyện M đã thu giữ vật chứng, phương tiện gây án, khởi tố, xử lý các đối tượng trộm cắp theo quy định của pháp luật. Bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng; có bố đẻ là Vũ Hồng Th, mẹ đẻ là Nguyễn Thị Minh S, bố vợ là Đỗ Xuân L được tặng thưởng Huân, Huy chương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo Vũ Hồng S phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội vì động cơ, mục đích vụ lợi, bị cáo có đơn xin phạt tiền, tự nguyện giao nộp 500.000.000đ trước khi xét xử nên HĐXX sẽ áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS. Xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề được áp dụng, đồng thời áp dụng hình phạt chính bằng tiền, phạt Vũ Hồng S một khoản tiền nhất định theo đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Vì HĐXX đã áp dụng hình phạt chính bằng tiền, hơn nữa số tiền phạt là rất lớn. Do vậy, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 12 thùng cát tông dán kín và niêm phong bởi dấu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ công án, bên trong có 2.053 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No 555 GOLD; 803 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No 555 ORIGINAL; 70 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No.555 MANDARIN; 250 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE Lights; 80 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD; 190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZOUK; 170 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET; 40 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO. 03 thùng cát tông, trên bao bì in thông tin “Oishi Kẹo 80 gói x 90G (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và thủ kho vật chứng công an tỉnh Hưng Yên lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 25/12/2020).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 350.000 đồng thu của bị cáo Vũ Hồng S đây là số tiền bị cáo thu lời bất chính.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1 - Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hồng S phạm tội Buôn bán hàng cấm.
Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Hồng S 1.100.000.000đ sung ngân sách nhà nước. Được trừ đi số tiền bị cáo Vũ Hồng S đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên là: 500.000.000 đồng theo biên lai số 0001883 ngày 07/7/2021. Bị cáo còn phải nộp 600.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
2 - Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 12 thùng cát tông dán kín và niêm phong bởi dấu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ công án, bên trong có 2.053 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No 555 GOLD; 803 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No 555 ORIGINAL; 70 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND No.555 MANDARIN; 250 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE Lights; 80 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD; 190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZOUK; 170 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET; 40 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO. 03 thùng cát tộng, trên bao bì in thông tin “Oishi Kẹo 80 gói x 90G (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và thủ kho vật chứng công an tỉnh Hưng Yên lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 25/12/2020).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 350.000 đồng thu của bị cáo Vũ Hồng S.
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKS-P3 ngày 06 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên).
3 - Về án phí: Bị cáo Vũ Hồng S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4 - Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Khải
Lê Văn Nguyên
Trần Văn Thưởng
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND Tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cq CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo (qua TTG) - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VPCQ, Tòa hình sự./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA Trần Văn Thưởng |