vanban.org

Bản án 65/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Muôn.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lò Văn Muôn có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tòng Văn Pánh - Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Muôn.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 65 /2026/QĐ-TA
Điện Biên, ngày 03 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH Đ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Bạc Thị Liên

2. Thư ký phiên họp: ông Bùi Minh Thắng

Ngày 03 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân K 1 - Đ, tỉnh Đ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 76/QĐ-TA ngày 22 tháng 6 năm 2026, đối với:

Họ và tên: Tòng Văn P

Tên gọi khác: Không;

Sinh năm 1986 tại Điện Biên; Giới tính: Nam

Số Căn cước công dân: 011086005821 ngày cấp 10/6/2025, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an;

Nghề nghiệp: Nông nghiệp

Nơi cư trú: Bản K, xã M, tỉnh Đ

Con ông: Tòng Văn S ( đã chết) và con bà: Lò Thị H

(Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã Mường Lạn, tỉnh Điện Biên: Ông Hoàng Văn P- Phó trưởng Công an xã M

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Đ: Bà Hoàng Thuỳ D - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

1. Nội dung vụ việc:

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 21/5/2026 và tại phiên họp, Tòng Văn P thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2021 đến tháng 10 năm 2023 bị nghiện và lệ thuộc ma tuý cho đến nay. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 08/6/2026 của Trạm y tế xã Mường L đã xác định: Tòng Văn P nghiện ma tuý (nhóm MOP). Ngày 08/6/2026, Công an xã M đã yêu cầu Tòng Văn P đến làm việc, thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của Tòng Văn P và yêu cầu Tòng Văn P lên Công an xã M hoặc UBND xã M để đăng ký các hình thức cai nghiện hoặc điều trị các chất thay thế từ ngày 09/6/2026 đến ngày 15/6/2026.

Ngày 16/6/2026, Tòng Văn P bị lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế với lý do: Không đăng ký, cai nghiện tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý 2021 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy. Tòng Văn P đã được thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 18/6/2026, Công an xã M tỉnh Đ có Văn bản số 600/ĐN-CNBB về việc đề nghị, xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn P

1. Ý kiến của những người tham gia phiên họp:

- Ý kiến của người bị đề nghị: Bản thân tôi sử dụng ma túy từ năm 2021 đến tháng 10 năm 2023 bị nghiện và lệ thuộc ma tuý cho đến nay. Tôi đã được các cơ quan chức năng thông báo nhưng tôi đã không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn quy định. Tôi đã được thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tôi hoàn toàn nhất trí. Tôi xin được đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 tháng.

- Ý kiến của Cơ quan đề nghị: Pánh là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn Pánh từ 16 tháng đến 18 tháng. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đ địa chỉ: C1, xã T, tỉnh Đ.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát Khu vực 1 - Đ: Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ và quá trình giải quyết của Toà án đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn P nêu trên là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế của Tòng Văn P đã vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116 và khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý. Do đó đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1

- Điện Biên chấp nhận đề nghị của Công an xã M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn P từ 16 tháng đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Tòng Văn P - sinh năm 1986, có nơi cư trú ổn định tại bản K, xã M, tỉnh ĐB, đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2023. Kết quả xét nghiệm của Cơ sở y tế có thẩm quyền thể hiện vẫn nghiện chất ma túy, bị lập Biên bản vi phạm về việc Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị được lập đầy đủ, đảm bảo theo Điều 8, 95, 96, 103, 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Tòng Văn P có tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; Không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Toà án nào xét xử.

Căn cứ vào hành vi vi phạm, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn phù hợp để người bị đề nghị được cai nghiện, học tập, rèn luyện trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Ý kiến của người bị đề nghị tại phiên họp là phù hợp nên được chấp nhận.

Đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Do Người nghiện ma túy Tòng Văn P trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị áp dụng biện pháp quản lý bằng hình thức: Quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Đ được áp dụng đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định nhưng thân nhân của Tòng Văn P không nhất trí quản lý tại gia đình, nên thời gian quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh ĐB được trừ vào thời hạn cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 20, 21, 23, 24, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ vào các Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 6, Điều 8, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào các điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, 41, 42 và khoản 3 Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Căn cứ vào các Điều 7, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biên pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Căn cứ vào Điều 20 Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính Phủ quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Tòng Văn P

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười năm) tháng kể từ ngày người phải chấp hành quyết định được giao quản lý tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh ĐB ngày 16/6/2026.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định ngày 03/7/2026.

Trưởng công an xã M, tỉnh ĐB có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đ, tỉnh Đ có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định ngày 03/7/2026.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành Quyết định: Trong thời hạn 05 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này, Công an xã M, tỉnh Đ có trách nhiệm đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./. Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Người bị áp dụng BPXLHC;

- Trưởng Công an xã M;

- UBND xã Mường Lạn;

- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - ĐB;

- TAND tỉnh ĐB;

- Kế toán;

- Lưu hồ sơ.

Bạc Thị Liên

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Muôn được lập đầy đủ, hợp pháp theo Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, Điều 1; Điều 7, Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.

Xét về tính chất, mức độ, tình trạng nghiện ma túy của Lò Văn Muôn thì thấy: Lò Văn Muôn là đối tượng nghiện ma túy nhưng mới nghiện từ năm 2024, đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương trong lĩnh vực quản lý hành chính. Lò Văn Muôn đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đủ khả năng để tự cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị bằng các chất thay thế. Hành vi của Lò Văn Muôn đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý và a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng chống ma tuý. Do đó cần chấp nhận đề nghị của Công an xã Mường Ảng. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Muôn.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính thì thấy: Lò Văn Muôn có nhân thân tốt chưa bị Tòa án nào xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cũng như tại phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Lò Văn Muôn tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính cho Lò Văn Muôn được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính; Lò Văn Muôn không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.

Căn cứ vào: Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều Luật phòng chống ma túy sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 1; Điều 7, Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp bộ máy nhà nước; Các Điều 20, 21, 23, 24, 30, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Muôn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Lò Văn Muôn có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Công an xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã Mường Ảng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ