- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Chí B - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn L là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Chí B. Huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2019/HS-PT Ngày: 25-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Ba
Ông Trần Văn Mười
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2019 tại Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2018/TLPT-HS ngày 06 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Lê Chí B, do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 327/2018/QĐPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2018.
- Bị cáo không có kháng cáo: Họ và tên: Lê Chí B (tên gọi khác: Lê Văn B), sinh năm 1972 tại Cà Mau; Nơi cư trú: ấp CM, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tấn T (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L (chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 22/8/2017 (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo và là người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn L; Nơi cư trú: ấp CM, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn N là Luật sư của Văn phòng Luật sư AS, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người bị hại: Cháu Võ Tuyết M, sinh ngày 25 tháng 04 năm 2007; Nơi cư trú: ấp CM, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Văn Đ; Nơi cư trú: ấp CM, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 13 tháng 6 năm 2017, Lê Chí B đi đến nhà của anh Võ Văn Đ (ngụ ấp Liên Hòa, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau) B không thấy ai ở trong nhà nên B vào nhà lên võng nằm và nhặt một đoạn dây nhựa dài khoảng 50cm ở gần đó bỏ vào túi quần.
Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Võ Tuyết M (sinh ngày 15/4/2007 là con gái của anh Đ) đang chơi ở nhà chị Võ Thị Tiền (cô ruột của M) cách nhà anh Đ 07 mét nhìn thấy B đang nằm trên võng nên chạy về nói với B: “Chú làm gì ở đây, chú lấy đồ là cha con đánh con” và nắm tay kéo B ngồi dậy nhưng B vẫn nằm im. M bỏ đi ra nhà sau thì lúc này B nảy sinh ý định quan hệ tình dục với M nên B đứng dậy đi theo M. Khi đến nhà sau, B dùng tay đè lên vai M cho M nằm xuống đất rồi dùng tay cởi quần M xuống tới đầu gối. B cởi quần ngoài và quần ngắn của B xuống tới đầu gối thì lúc này M la lên: “Cứu con”, B nói: “La lên tao bóp cổ mày à, tao có thủ sẵn dây”, B lấy sợi dây trong túi quần ra cho M xem rồi để vào túi. M thấy vậy nằm im. B nằm đè lên người M vừa đưa dương vật vào âm đạo của M thì nghe phía trước có người mở cửa B đứng dậy kéo quần lên và bỏ chạy ra phía sau nhà, chị T1 đi vào phát hiện chạy đến nắm lại nhưng không kịp, B bỏ chạy ra ruộng rồi đi về nhà.
Sau khi sự việc xảy ra chị Võ Thị T, anh Võ Văn Đ trình báo chính quyền địa phương và đưa Võ Tuyết M đến Trạm Y tế xã để khám thì được Bác sĩ Lê Quốc V, Trưởng trạm khám và phát hiện: Tại cửa âm đạo của M có vết trầy đỏ, trên người của M có 01 sợi lông nằm ở háng và 01 sợi lông nằm ở trên mu, nên bác sĩ V thu giữ, sau đó báo lại cho cơ quan điều tra (bút lục 82, 113-126, 137-147).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 24 ngày 14/6/2017, của Bệnh viện sản nhi tỉnh Cà Mau đối với bị hại Võ Tuyết M kết luận: Bộ phận sinh dục ngoài của nạn nhân bình thường không sang chấn, màng trinh nguyên vẹn.
Tại bản Kết luận giám định số 2109 ngày 21/7/2017 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phân tích gen (AND) theo hệ Identifiler từ 02 mẫu lông thu tại bộ phận sinh dục của Võ Tuyết M được 01 kiểu gen (AND) nữ hoàn chỉnh (đã giám định hết mẫu vật).
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 124 ngày 29/9/2017 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Lê Chí B, kết luận:
Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần. Chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình ( F71-ICD10).
Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.
Ngày 29/9/2017, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam bộ, có công văn gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau, nội dung như sau:
- Về tỷ lệ hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là bao nhiêu phần trăm %: Mức độ hạn chế được hiểu là đương sự không có đầy đủ và toàn diện khả năng nhận thức và điều khiển hành vi như người bình thường, nhưng cũng không mất hoàn toàn, do đó không thể đo lường bằng con số cụ thể.
- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do bệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Vật chứng trong vụ án thu giữ gồm: 01 cái quần thun ngắn, màu hồng, mặt sau quần có dính đất khô; 01 áo đầm liền bằng vải, phần áo phía trên màu vàng, xanh, đỏ, phần váy phía dưới màu đen; Đường ráp nối giữa thân áo và váy bị rách một đường dài 03cm. Lưng áo có dính ít đất khô, 01 quần vải màu xanh dài, có ba sọc trắng hai bên ống quần; 01 quần thun ngắn sọc màu xanh trắng; 01 áo thun dài tay màu xanh đen, bên trong cổ áo có chữ THE MIKE STYLE MADE IN VIET NAM. Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau đang quản lý (bút lục 18,19, 22-24, 88,89).
Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay gia đình của M yêu cầu B bồi thường tiền tổn thất tinh thần, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 14/KSĐT-TA ngày 29/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị o Lê Chí B về tội “Hiếp dâm trẻ em” theo khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2017/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 142, Điều 48, điểm q, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 41 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
Áp dụng Điều 592 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí B (Lê Văn B) phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Lê Chí B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về trách nhiệm phải chịu tiền lãi suất của bị cáo đối với số tiền phải bồi thường, về án phí, về các quy định thi hành án và quyền kháng cáo của bị cáo cũng như của những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018, ông Huỳnh Văn L là người giám hộ cho bị cáo Lê Chí B kháng cáo, yêu cầu xem xét lại tội danh đối với bị cáo. Lý do kháng cáo mà ông L đưa ra là, bị cáo B bị bệnh tâm thần từ bé, ngày 13/6/2017 bị cáo có đến nhà ông Võ Văn Đ, đang nằm trên võng thì cháu Võ Tuyết M kéo dậy, bị cáo tức giận đuổi theo và xô cháu M ngã chứ không thực hiện hành vi hiếp dâm như bản án sơ thẩm quy kết.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Khi được Hội đồng xét xử và Luật sư hỏi, bị cáo Lê Chí B đều trả lời không biết gì hoặc trả lời không rõ ràng các câu hỏi.
Ông Huỳnh Văn L phát biểu như sau: Ông là cháu gọi bị cáo B là cậu ruột. Bị cáo sống chung với gia đình ông. Bị cáo B bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không làm chủ được hành vi của mình. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ vụ án, tiến hành tái giám định pháp y tâm thần đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Hồ sơ vụ án thể hiện nhân chứng là bà Võ Thị T1 xác định chỉ thấy bị cáo bỏ chạy, không thấy bị cáo thực hiện hành vi hiếp dâm người bị hại. Mặt khác, bản kết luận giám định pháp y về tình dục đối với người bị hại, xác định 02 sợi lông thu được không phải là của bị cáo B mà là của một phụ nữ đã trưởng thành. Bản án sơ thẩm buộc tội bị cáo B là chưa có cơ sở vững chắc. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa: Bị cáo không thực hiện quyền này.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày ý kiến như sau: Thống nhất với lập luận và đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Chí B đã khai, vào ngày 13/6/2017 khi đến nhà anh Võ Văn Đ chơi trong lúc vắng người lớn ở nhà, bị cáo đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu Võ Tuyết M. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai, vào ngày 13/6/2017 bị cáo có đến nhà ông Đ chơi, có gặp cháu M, còn những việc sau đó thì bị cáo không biết. Bản án sơ thẩm nhận định rằng các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, có sự chứng kiến của Luật sư, người nhà của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp của bị cáo thừa nhận Cơ quan điều tra làm việc với B rất khách quan nên có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và đã tuyên phạt bị cáo 7 năm tù.
Xét thấy, mặc dù các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra đều thể hiện bị cáo có hành vi giao cấu với cháu M, tuy nhiên các lời khai này chưa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể như sau:
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan điều tra có thu giữ 02 sợi lông tại bộ phận sinh dục của cháu M; thu thập mẫu lông bộ phận sinh dục, mẫu tóc, mẫu máu, mẫu móng tay của bị cáo B và tưng cầu Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh giám định “Xác định kiểu gen (ADN) của mẫu lông thu tại bộ phận sinh dục của Võ Tuyết M có trùng với kiểu gen (ADN) của đối tượng Lê Văn B hay không?”.
Tại bản Kết luận giám định số 2109/C54B ngày 21/7/2017 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận “Phân tích gen (ADN) theo hệ Identifiler từ 02 (hai) mẫu lông thu tại bộ phận sinh dục của Võ Tuyết M được 01 kiểu gen (ADN) nữ hoàn chỉnh” (bút lục số 22).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 24/TD ngày 14/6/2017 của Bệnh viện sản - nhi tỉnh Cà Mau đối với cháu Võ Tuyết M có hình ảnh chụp bộ phận sinh dục của cháu M không có lông và kết luận “Lông mu: Chưa phát triển” (các bút lục từ số 18-20).
Như vậy, giữa hai bản kết luận nêu trên có mâu thuẫn với nhau, bộ phận sinh dục của cháu M chưa có lông, giám định ADN xác định 02 sợi lông thu tại bộ phận sinh dục của cháu M là kiểu gen (ADN) nữ hoàn chỉnh. Vậy 02 sợi lông này là của ai, tại sao xuất hiện tại bộ phận sinh dục của nạn nhân.
Tại trang 226, số 346 Sổ Hộ tịch của UBND xã KH và Bản sao giấy khai sinh số 346, quyển số 02/2010 của UBND xã KH (bút lục số 80, 81), thể hiện cháu M sinh ngày 15/4/2007 nhưng đăng ký khai sinh quá hạn ngày 30/8/2010. Cơ quan điều tra chưa thu thập giấy chứng sinh, sổ theo dõi sản phụ (mẹ cháu M) nhập, sinh và xuất viện khi sinh cháu M. Trong trường hợp không thể thu thập được các chứng cứ nêu trên, cần thiết phải tiến hành giám định độ tuổi của người bị hại.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận. Cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau điều tra lại theo đúng thủ tục quy định.
Do huỷ bản án sơ thẩm nên đại diện hợp pháp của bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
1/ Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn L là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Chí B. Huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau điều tra lại theo đúng thủ tục quy định.
Tiếp tục giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý lại vụ án.
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Cục THADS tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - TTG CA tỉnh Cà Mau (tống đạt cho bị cáo (2)); - ĐDHPBC(1); - ĐDHPBH (2) - Lưu VP(3) HS (2), 18b (Án 09). CÁC THẨM PHÁN Trần Văn Mười Nguyễn Hữu Ba | Võ Văn Khoa THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Khoa |