- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Thị P xin ly hôn với anh Lường văn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyên đơn chị Quàng Thị Ph được ly hôn với bị đơn anh Lường Văn V
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 65/2019/HNGĐ-ST Ngày 29-11-2019 "V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Lò Thanh Hồng
Ông: Lò Văn Ơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 22/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2019/QĐST- DS ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị Ph, sinh năm 1986
ĐKTT: Đội T, xã Thanh H, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, có mặt
Chỗ ở hiện nay: Bản Hồng Kh, xã Thanh A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn: Anh Lường Văn V, sinh năm 1984
ĐKTT: Đội T, xã Thanh H, huyện Đ B, tỉnh Đ B, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/7/2019, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Quàng Thị Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lường Văn V lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 24/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh H, huyện Đ B. Hôn nhân là tự nguyện không ai bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian đến khoảng tháng 4 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V không tu chí làm ăn, luôn có hành vi bạo lực, đánh đập chị Ph, nhiều lần còn cầm dao dọa giết, nhiều lần còn bắt chị Ph đưa tiền để tiêu sài cá nhân không vì mục đích chung gia đình. Chị đã nhiều lần bỏ về bố mẹ đẻ, anh V đã đến xin lỗi và sửa chữa nhưng anh V vẫn không thay đổi. Cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc do luôn bị đe dọa và đòi tiền nên đã chị và anh V đã sống ly thân từ 04/3/2019 cho đến nay. Từ đó không ai quan tâm đến ai nữa. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
Về quan hệ con chung: Anh chị có 01 con chung: Cháu Lường Mạnh Q sinh ngày 12/12/2014, hiện cháu đang ở với ông bà nội, chị xin được nuôi con đến khi thành niên và có khả năng lao động, chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, đất nông nghiệp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06/9/2019 và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 06/9/2019: Anh V thừa nhận vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn nhưng do con cái ốm đau và do công việc làm ăn xa nhà nên phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã ly thân từ khoảng tháng 3/2019 từ đó không ai quan tâm đến ai nữa nhưng anh không nhất trí ly hôn với lý do con bị bệnh hiểm nghèo đang phải điều trị cần có sự chăm sóc của vợ chồng. Tại phiên hòa giải lần 2 ngày 02/10/2019 anh Ph cũng đã nhất trí ly hôn. Về con chung: Anh chị thống nhất con chung sẽ do anh V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Ph có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng 500.000 đồng từ tháng 11/2019. Về quan hệ tài sản: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng sau khi Tòa án đọc lại biên bản cho các đương sự thì anh Vinh bỏ về không ký biên bản nên không rõ quan điểm của anh Lường Văn V đối với việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa chị Ph vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện, bản tự khai, kiên quyết xin ly hôn. Anh V thừa nhận tại phiên tòa vợ chồng anh có mâu thuẫn không còn tình cảm và không có quan hệ gì từ khi ly thân cho đến nay song anh không nhất trí ly hôn với lý do cháu Q đang bị bệnh hiểm nghèo cần sự chăm sóc của 2 vợ chồng, nguyện vọng của anh khi nào cháu mất anh mới nhất trí ly hôn. Về con chung, tài sản anh không có ý kiến gì.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật: Về thẩm quyền và trình tự thủ tục Thẩm phán, thư ký Tòa án và Hội đồng xét xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận cho chị Quàng Thị Ph được ly hôn với anh Lường Văn V theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình: Chấp nhận việc giao cháu Lường Mạnh Q sinh ngày 12/12/2014 cho chị Ph chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Vinh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chấp nhận việc không yêu cầu giải quyết về tài sản của chị Phong.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí DSST.
Về kiến nghị: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
. Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Chị Quàng Thị Ph và anh Lường Văn V kết hôn ngày 24/5/2012 vì vậy Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph và anh V lấy nhau có đăng ký kết hôn, hôn nhân là tự nguyện, không ai bị ép buộc hoặc lừa dối nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống được một thời gian đến khoảng tháng 4/2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của người chồng thường xuyên có hành vi đánh đập, đe dọa đến tính mạng chị Phong, anh V đã không tu chí làm ăn thường xuyên đòi chị phải đưa tiền để anh V tiêu sài không vì mục đích chung của gia đình. Chị Ph đã nhiều lần tạo điều kiện cho anh V sửa chữa lỗi lầm song anh V không sửa được. Mặc dù anh V không thừa nhận nguyên nhân dẫn đến anh chị ly thân, anh không nhất trí ly hôn song tại các biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn xác minh công việc, nơi cư trú của anh V (BL 26,27) thì anh V là người lười lao động thường xuyên đánh đập, có hành vi bạo lực gia đình, thường xuyên đòi tiền chị Ph khiến chị Ph hoảng sợ phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 3/2019. Tại biên bản sự việc ngày 20/7/2019 do chị Ph cung cấp có xác nhận của chính quyền địa phương thì anh V đã có hành vi đánh đập nghiêm trọng và cầm dao dọa giết chị Ph (BL 21-22).
HĐXX xét thấy: Qua lời khai các bên, qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định anh V đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của người chồng khiến hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh V cũng thừa nhận anh chị không còn tình cảm, không thể sống với nhau được nhưng anh không nhất trí ly hôn với lý do cháu Q bị hiểm nghèo còn sự chăm sóc của cả hai vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyện vọng muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị Ph chỉ vì con chứ không vì tình cảm yêu thương, vợ chồng hạnh phúc gắn bó với nhau là không có căn cứ chấp nhận. Việc chị Ph xin ly hôn với anh V cần được chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Xét nguyện vọng về con chung khi ly hôn của chị Ph. Về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chị có nơi cư trú ổn định, nghề nghiệp làm ruộng ngoài ra đi làm thuê có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Q thể hiện tại (BL 26). Tại phiên tòa anh V thừa nhận do công việc làm thuê xa nhà từ tháng 4/2019, hàng tháng anh V chỉ về nhà 01 lần khoảng 2 ngày lại đi mỗi khi cháu đi truyền máu ở bệnh viện nên không có điều kiện gần gũi nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh V không có ý kiến gì về phần con chung.
HĐXX xét thấy: Căn cứ nguyện vọng, điều kiện và khả năng chăm sóc con chung của chị Ph và anh V và quyền lợi mọi mặt của cháu Q: HĐXX căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quyết định giao cháu Lường Mạnh Q sinh ngày 12/12/2014 cho chị Ph chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động, chấp nhận sự tự nguyện chị Ph không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, đất nông nghiệp: Chị Ph và anh V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX chấp nhận
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí DSST.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyên đơn chị Quàng Thị Ph được ly hôn với bị đơn anh Lường Văn V
2. Về con chung: Giao cháu Lường Mạnh Q sinh ngày 12/12/2014 cho chị Ph chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chấp nhận sự tự nguyện chị Ph không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, đất nông nghiệp: Chấp nhận việc chị Ph, anh V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí DSST: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật TTDS và Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Quàng Thị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí DSST được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0003198 ngày 04/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, chị Ph đã nộp đủ án phí DSST.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị Ph, anh Lường Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 29/11/2019./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Điện Biên;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Điện Biên;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Điện Biên;
- Chi cục THADS huyện Điện Biên;
- Các đương sự;
- Ủy ban nhân dân xã Thanh H ,huyện ĐB;
- Lưu HS, DS.
Lê Đình Hà
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM
THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Đình Hà
Lò Thanh Hồng Lò Văn Ơn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM
THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Đình Hà
Bạc Thị Kiên Lò Văn Ơn
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu của anh
Anh Dương Xuân Lương có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu trên theo quy định của pháp luật.
{6} Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Ông Nguyễn Xuân Vương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Xuân Vương. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Điện Biên có đơn xin giải quyết vắng mặt, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.
Về sự vắng mặt của người làm chứng: Phiên tòa ngày 27 và 28/12/2018 chỉ có anh Duẩn, chị Làn, chị Lương có mặt. Ông Bùi Quang Minh, anh Loan, anh Yên, ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Văn Khuê vắng mặt.Xét thấy sự vắng mặt của những người làm chứng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, HĐXX tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung (Bỏ)
Khoản 2 Điều 71; Điều 72; Điều 218, khoản 2 Điều 219, Điều 273 và khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 165; Điều 166 BLTTDS năm 2015;
Căn cứ Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986;
Căn cứ Điều 27 và Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều: Điều 27; Điều 37; khoản 1 Điều 56; Điều 59; Điều 62; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 176 BLDS năm 1995, khoản 1 Điều 2 Luật đất đai năm 1993; Điều 166, 167, 170 và Điều 179 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC
- BTP của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư pháp ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật HNGĐ năm 2014;
Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a, b, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI THẨM Bạc Thị Kiên
Lê Đình Hà
Lò Văn Thƣơng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Điện Biên; - Các đương sự; - Lưu HS, DS. Vương Quốc Khương văn phòng không có hồ sơ lưu. Đối với việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 cho anh Vương Văn Khương là do hợp thửa 314 và 327, không thể hiện số diện tích mua của anh Lò Văn Yên, bởi đất anh Lò Văn Yên là đất lúa (Đưa vào phần nhận định) Văn Khuê đều xác nhận và cam đoan tại bản tự khai có việc mua bán chuyển nhượng viết tay với ông Vương Quốc Hùng về thời gian bán, số tiền mua bán chuyển nhượng và diện tích mua bán như lời khai của anh Khương và ông Hùng, việc mua bán đã hoàn thành, đất trên đã làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất mang tên anh Khương, đều không có ý kiến gì khác. Vương Văn Khương, chị Nguyễn Thị Vân, Tòa án quyết định đưa ông Vương Quốc Hùng - Bà Ngô Thị Miễn, Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện Điện Biên, ông Nguyễn Xuân Vương, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Điện Biên, phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Điện Biên, anh Phạm Văn Định, chị Bùi Thị Thúy Vân với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đưa ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Văn Khuê, anh Lò Văn Loan, Lò Văn Yên, anh Vương Quốc Đại, anh Vương Minh Duẩn, chị Vương Thị Làn, chị Vương Thị Kim Lương và ông Bùi Quang Minh với tư cách là người làm chứng trong vụ án ông Hà Văn Khuê 500m2, mua của ông Phạm Văn Khuê 500m2, khai phá thêm 205 m2. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 là 2000m2. Sau đó anh Khương bán cho ông Hải 112m2, bán cho bà Hòa 110m2. Mua lại của ông Loan ( anh trai ông Yên là 600m2. Thực tế diện tích đất hiện đã trao đổi mua bán và khai phá thêm là 2000m2 – 222m2 + 600m2 + 205 m2 = 2.583 m2, lớn hơn so với diện tích đất hiện có là 2.205m2 đó anh chị bán cho ông Hải 112m2, bán cho bà Hòa 110m2. Mua lại của Lò Văn Loan (ông Yên 600 m2. Thực tế diện tích đất hiện đã trao đổi mua bán là 2000 m2 - 222m2 + 600 m2 = 2.378 m2 lớn hơn so với diện tích đất hiện có sau khi cấp đổi sổ là 2.205m2 khai phá thêm 205 m2 là đất thuộc hàng lang suối liền kề thửa đất nên không thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần mua thêm 600 m2 của Lò Văn Loan (Lò Văn Yên) thì khi mua cả hai không tiến hành đo đạc. Còn thủ tục chuyển nhượng từ ông Lò Văn Loan sang tên anh Khương do anh Loan có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng, cụ thể diện tích đo đạc thế nào và hợp đồng ra sao cả hai không năm được, sau này anh và ông Hùng mới biết thực tế diện tích chuyển nhượng theo đo đạc của địa chính là 556 m2 chứ không phải 600 m2 khi hai bên viết giấy chuyển nhượng tay với nhau không có sự chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Nhưng năm 2013 khi cấp đổi sổ, địa chính đã đo vẽ lại nên chỉ có diện tích đất như hiện tại. Do anh Khương không hợp tác trong việc thẩm định tại chỗ lần chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Tuy nhiên cả hai anh chị và ông Hùng đều khẳng định khi xin cấp đổi GCNQSDĐ cán bộ địa chính đã đo vẽ lại đúng diện tích đất đang sử dụng và đúng với kết quả đo đạc thẩm định tại chỗ lần 1 của Tòa án. Anh, chị không mua, bán hay khai phá thêm nên đây là chứng cứ không cần chứng minh. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Đình Hà - Ý kiến ông Vũ Tân Cương: Đối với hồ sơ cấp đất năm 2001 cho hộ ông Người làm chứng: Lò Văn Yên, Lò Văn Loan, Ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đơn đề nghị, ý kiến của anh Đối với diện tích đất ông Hùng khai: Được chia năm 1995 là 1.000m2, mua của Chị Vân cũng khai: ông Hùng cho 10002, mua lại của ông Hùng1000m2. Sau Diện tích đất đang chênh lệch này ông Hùng và anh Khương cho rằng phần 2 và lần 3 nên không có căn cứ để xác định diện tích đất thực tế hiện có so với giấy |