vanban.org

Bản án 65/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/9/2017. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn T bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự
HUYỆN HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2017/HSST
Ngày: 30-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thạch.

2. Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Trường Tây, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2017/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59//2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Lâm Văn T (tên gọi khác: Võ Tấn Dũng), sinh năm: 1978; tại Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố 3, Phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Khu phố 1, Phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; chứng minh nhân dân: 290790042; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: không biết chữ; con ông: Lâm Văn Nghĩa, sinh năm 1924 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Công, sinh năm 1930 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1980 (đã ly hôn); con: 01 người.

Tiền án:

+ Ngày 15/6/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên phạt bị cáo Lâm Văn T 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo bản án số 198/STHS ngày 15/6/1998.

+ Ngày 04/6/2001, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt bị cáo Lâm Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo bản án số 45/HSST ngày 04/6/2001.

+ Ngày 29/9/2008, Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tuyên phạt bị cáo Lâm Văn T 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 110/2008/HSST ngày 29/9/2008.

+ Ngày 26/4/2012, Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tuyên phạt bị cáo Lâm Văn T 06 (Sáu) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo bản án số 36/2012/HSST ngày 26/4/2012.

Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giam ngày 18/9/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Những người bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Đông, sinh năm 1970 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số 81 ấp Long Tân, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

2. Ông Lê Văn Hải, sinh năm 1960 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số 64 ấp Long Đại, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/9/2017, Lâm Văn T chuẩn bị sẵn 02 cây xà beng bằng sắt (01 cây dài 58cm, 01 cây dài 35cm), 01 đôi găng tay bằng vải, 01 nón tai bèo, 01 kính bảo hộ lao động, tất cả bỏ trong túi xách bằng nylon rồi treo trên cổ xe đạp đi tìm nhà vắng chủ để trộm tài sản. Khi đi đến ấp Long Tân, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, T nhìn thấy nhà của ông Nguyễn Văn Đông khóa cửa ngoài, không có người trông coi nên đã lén lút dùng xà beng bẻ gãy khung sắt cửa sổ trèo vào trong nhà, lục tìm tất cả các phòng nhưng chỉ trộm được 300.000 đồng, sau đó lấy xe đạp đi về.

Đến ngày 18/9/2017, T tiếp tục mang theo công cụ đã chuẩn bị sẵn, dùng xe đạp đi đến nhà ông Lê Văn Hải; ngụ ấp Long Đại, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh leo hàng rào vào trong, dùng hai cây xà beng cạy ổ khóa cửa chính để vào nhà trộm tài sản. Khi đang mở cửa thì bị người dân phát hiện bắt giữ giao Công an xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Lâm Văn T khai nhận: Từ ngày 16/9/2017 đến ngày 18/9/2017, T đã lén lút để trộm cắp tài sản của hai người. Cụ thể trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Văn Đông số tiền 300.000 đồng, cạy cửa khóa vào nhà của ông Lê Văn Hải chưa trộm được tài sản thì bị bắt giữ.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số: 54/QĐ/KSĐT ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành đã truy tố bị can Lâm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành giữ quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Văn T mức án từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đông số tiền 300.000 đồng, người bị hại là ông Lê Văn Hải chưa mất tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Lâm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong khoảng thời gian từ ngày 16/9/2017 đến ngày 18/9/2017, Lâm Văn T đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn Đông số tiền 300.000 đồng, cạy cửa khóa vào nhà của ông Lê Văn Hải chưa trộm được tài sản thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 300.000 đồng (Ba trăm nghì đồng), nhưng do bị cáo có nhiều tiền án chưa được xóa án tích mà còn có hành vi trộm cắp tài sản cho nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành truy tố bị cáo Lâm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất tham lam, thích có tiền tiêu xài cá nhân nhưng lười lao động, xem thường pháp luật đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xét xử ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Do đó, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Ông Đông yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị mất trộm 300.000 đồng và bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

* Các tài sản do bị cáo sử dụng cho việc phạm tôi, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 01 (một) túi xách bằng nylon màu trắng có quai, kích thước 49cm x 42cm, đã qua sử dụng, bị rách một đoạn dài 0,65m.

+ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, dài 35cm, có một đầu dẹp và một đầu dùng để nhổ đinh, đã qua sử dụng, có nhiều vết rỉ sét.

+ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, dài 58cm, có một đầu dẹp và một đầu dùng để nhổ đinh, đã qua sử dụng, có nhiều vết rỉ sét

+ 01 (một) đôi dép nhựa màu đen cỡ số 6, có chữ “ASIASPORTS”, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) kính bảo hộ màu trắng, gọng kính màu xanh có chữ “S3006-C13SPIDER MADE IN TAIWAN” màu trắng, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) mũ rộng vành bằng vải màu đen, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) đôi găng tay bằng vải Len màu xám, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) áo sơ mi dài tay bằng vải sọc caro màu đen-trắng, đã qua sử dụng, có dính nhiều vết màu nâu.

+ 01 (một) quần dài bằng vải (loại quần thể thao) màu đen, có sọc màu trắng dọc theo ống quần, đã qua sử dụng, có dính nhiều vết màu nâu đỏ.

+ 01 (một) ổ khóa bằng kim loại màu vàng, có chữ “ZIN MADE IN TAIWAN” màu đỏ, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước.

+ 01 (một) cây tre dài 67cm màu nâu, đường kính khoảng 0,8cm, đã qua sử dụng, đã vỡ thành nhiều mãnh.

+ 01 (một) khung sắt kích thước (1,5 x 2,5)cm, dài 50cm.

* Đối với 01 (một) xe đạp màu bạc, yên xe màu đen, trên khung xe có chữ “Best”, đã qua sử dụng, không có bộ phận thắng sau, là phương tiện bị cáo sử dụng trong việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

* Đối với tiền Việt Nam 150.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C1 màu đen số IMEI 352429/05/663557/1 (kiểm tra trên thân máy), nắp sau máy bị nứt, đã qua sử dụng là những tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền bồi thường thiệt hại là 300.000 đồng, giữa bị cáo và người bị hại thỏa thuận được với nhau nên Hội đồng xét xử ghi nhận và bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/9/2017.

2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Lâm Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đông số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày ông Đông có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo T không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bị cáo T còn phải trả cho ông Đông số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) túi xách bằng nylon màu trắng có quai, kích thước 49cm x 42cm, đã qua sử dụng, bị rách một đoạn dài 0,65m.

+ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, dài 35cm, có một đầu dẹp và một đầu dùng để nhổ đinh, đã qua sử dụng, có nhiều vết rỉ sét.

+ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, dài 58cm, có một đầu dẹp và một đầu dùng để nhổ đinh, đã qua sử dụng, có nhiều vết rỉ sét

+ 01 (một) đôi dép nhựa màu đen cỡ số 6, có chữ “ASIASPORTS”, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) kính bảo hộ màu trắng, gọng kính màu xanh có chữ “S3006-C13SPIDER MADE IN TAIWAN” màu trắng, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) mũ rộng vành bằng vải màu đen, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) đôi găng tay bằng vải Len màu xám, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) áo sơ mi dài tay bằng vải sọc caro màu đen-trắng, đã qua sử dụng, có dính nhiều vết màu nâu.

+ 01 (một) quần dài bằng vải (loại quần thể thao) màu đen, có sọc màu trắng dọc theo ống quần, đã qua sử dụng, có dính nhiều vết màu nâu đỏ.

+ 01 (một) ổ khóa bằng kim loại màu vàng, có chữ “ZIN MADE IN TAIWAN” màu đỏ, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước.

+ 01 (một) cây tre dài 67cm màu nâu, đường kính khoảng 0,8cm, đã qua sử dụng, đã vỡ thành nhiều mãnh.

+ 01 (một) khung sắt kích thước (1,5 x 2,5)cm, dài 50cm.

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) xe đạp màu bạc, yên xe màu đen, trên khung xe có chữ “Best”, đã qua sử dụng, không có bộ phận thắng sau.

* Hoàn trả cho bị cáo:

+ Tiền Việt Nam 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C1 màu đen số IMEI 352429/05/663557/1 (kiểm tra trên thân máy), nắp sau máy bị nứt, đã qua sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ số tài sản trả lại cho bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đang tạm giữ).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lâm Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Đông, ông Hải được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ