- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Thế H, Đinh Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (…"
- Tòa quyết gì? 51, i u 38, i u 17, i u 58 đối với Nguyễn Thế H, inh Văn T), i u 90,
- Căn cứ chính? Bộ luật H nh sự th D; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật H nh sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM | |
TOÀ ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN TL TỈNH HÀ NAM Bản án số: 64/2021/HS-ST Ngày: 11 - 8 - 2021. CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DAH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân C; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Hà - Cán bộ nghỉ hưu, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện TL; 2. Ông Quách Xuân Luyện - Giáo viên nghỉ hưu. - Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân D - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông V nh Tư ng - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 8 năm 2021, tại trụ s Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án h nh sự sơ thẩm thụ lý số 61/2021/TLSTHS ngày 30 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/Q XXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/HSST-Q ngày 29/7/2021, đối với các bị cáo: 1. N n Th H - sinh năm 2001; nơi cư tr : thôn NC, xã LC, huyện TL, tỉnh Hà Nam; ngh nghiệp: lao động tự do; tr nh độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn và bà Nguyễn Thị M; v , con: chưa c ; ti n án, ti n sự: không. Bị cáo bị b t tạm giam t ngày 25/01/2021, hiện đAg bị tạm giam tại Trại tạm giam Công A tỉnh Hà Nam; c mặt tại phiên tòa. 2. Đinh Văn T - sinh ngày 10/3/2004; nơi cư tr : thôn CT, xã CT1, huyện NL, tỉnh ThAh Hóa; ngh nghiệp: lao động tự do; tr nh độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông inh Văn L và bà Phạm Thị O; v , con: chưa c ; ti n án, ti n sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đư c tại ngoại, c mặt tại phiên tòa. - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đinh Văn T: ông inh Văn L - sinh năm 1972, là bố đẻ của bị cáo và bà Phạm Thị O - sinh năm 1978, là mẹ đẻ của bị cáo; ông L và bà O ủy quy n cho Ah inh Văn T - sinh năm 1998, là Ah ruột của bị cáo; c ng nơi cư tr : thôn CT, xã CT1, huyện NL, tỉnh ThAh Hóa; ông Lư ng và Ah Th ng c mặt. - Người bào chữa cho bị cáo: bà Phạm Thị Nhàn - Tr gi p viên pháp lý, thuộc Trung tâm Tr gi p pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam bào chữa cho inh Văn T; c mặt. - Người có quy n ợi, ngh a v iên quA đ n v án: 1. Cháu Lê ức D - sinh ngày 05/01/2006; người đại diện h p pháp: bà ặng Thị Th m - sinh năm 1978, là mẹ đẻ của cháu D; c ng nơi cư tr : thôn Lau Chảy, xã LT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; v ng mặt. 2. Cháu Lê Tiến T1 - sinh ngày 06/6/2004; người đại diện h p pháp: ông Lê Tiến Th - sinh năm 1971, là bố đẻ của cháu T1; c ng nơi cư tr : thôn MC, xã ThAh Hà, huyện TL, tỉnh Hà Nam; cháu T1 c mặt, ông T2 v ng mặt. 3. Ông Lê Tiến T2 - sinh năm 1971; nơi cư tr : thôn MC, xã ThAh Hà, huyện TL, tỉnh Hà Nam; v ng mặt. 4. Ông Lại Vi A - sinh năm 1976; nơi cư tr : thôn HN, xã ThAh Hà, huyện TL, tỉnh Hà Nam; v ng mặt. 5. Bà Nguyễn Thị N1 - sinh năm 1978; nơi cư tr : thôn HN, xã ThAh Hà, huyện TL, tỉnh Hà Nam; v ng mặt. - Người àm chứng: 1. Cháu Lê Thị Th y TrAg - sinh ngày 04/5/2004; người đại diện h p pháp: ông Lê Xuân C - sinh năm 1973, là bố đẻ của cháu TrAg; v ng mặt. 2. Cháu Lê Thị D - sinh ngày 24/10/2003; người đại diện h p pháp: bà Lê Thị Thủy - sinh năm 1969, là mẹ đẻ của cháu D; v ng mặt. 3. Ah Nguyễn Văn Phi - sinh năm 2002; v ng mặt. NỘI D VỤ ÁN: Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án đư c t m t t như sau: Tối ngày 20/9/2020, Nguyễn Thế H, inh Văn T, Lê ức D, Nguyễn Văn Phi, Lê Tiến T1, Lê Thị Th y TrAg và Lê Thị D đAg phòng trọ của T c địa chỉ tại t dân phố Lãm, thị tr n Tân ThAh, huyện TL, tỉnh Hà Nam) thuê của gia đ nh ông Lại Vi A và bà Nguyễn Thị N1. L c này, do c nhu cầu sử dụng ma túy, nên H n i với T và D: “Ah còn ít, lấy xuống mỗi người làm khói” - ý H nói đi l y ma t y đá của H mAg v phòng trọ để c ng nhau sử dụng, thì T và D đồng ý. Sau đ , H mư n xe mô tô BKS 90B3-068.92 của T1, rồi đi u khiển ch T đi v gần nhà H thôn NC, xã Liêm Cần, huyện TL, tỉnh Hà Nam để l y ma t y đá. ến nơi, H chỉ cho T vị trí cây cột điện H c t gi u ma t y đá t trước để T đi đến l y. Sau khi T l y đư c g i ma t y đá theo sự chỉ dẫn của H, thì quay lại lên xe mô tô BKS 90B3-068.92 để H ch v phòng trọ. Khi v đến vệ đường đối diện phòng trọ, T bảo H cho xuống xe, rồi T đi l y chiếc c ng d ng để sử dụng ma t y đá mà T c t vệ đường trước đ , còn H đi v phòng trọ c t xe máy. C t xe xong, H th y T đã mAg cóng vào phòng, còn D đã đi l y chai nước mAg ra. Khi đã chuẩn bị xong dụng cụ để sử dụng ma t y đá, T đưa cho H gói ma t y đá mà cả hai c ng đi l y v , rồi c ng H cho ma t y đá vào trong c ng. H l y bật lửa đốt phần bầu c ng cho ma t y đá tA ra, rồi d ng ống h t h t trực tiếp vào cơ thể, sau đ T và D c ng lần lư t sử dụng ma t y theo cách H đã sử dụng. ến khoảng 23 giờ 30 ph t c ng ngày, sau khi đã sử dụng hết số ma t y đá, H mAg chiếc n p chai c g n c ng và ống h t v a sử dụng ma t y c t lên trên máng nước, còn D c t chai nước đi, rồi cả ba đi ngủ. ến 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2020, lực lư ng Công A thị tr n Tân ThAh, huyện TL vào kiểm tra hành chính th phát hiện vụ việc, nên đã tiến hành lập biên bản. * Tài sản, vật chứng thu giữ gồm: - Thu tại máng nước ngay trên cửa t phòng ngủ xuống bếp ăn phòng trọ của inh Văn T: 01 n p chai nhựa màu vàng đư c đục thủng 02 lỗ, trong đ c một lỗ đư c c m b i một đoạn ống nhựa dạng ống h t dài 37,5cm, một lỗ thủng còn lại đư c c m bằng một vật bằng thủy tinh không rõ h nh thường đư c gọi là cóng) có chi u dài 11cm, một đầu đư c uốn cong, tại đầu ống c h nh cầu rỗng, phía bên trong h nh cầu rỗng c ch t bám dính màu đen; lực lư ng Công A đã tách riêng vật bằng thủy tinh không rõ h nh thường đư c gọi là c ng) niêm phong theo quy định của pháp luật ký hiệu VV01). - Thu giữ tại khe phía sau tường phòng trọ giáp bể nước phòng trọ của inh Văn T 01 dao ph ng c t ng chi u dài 1,83m, phần thân dao dài 34cm c lưỡi bầu, s c, m i nhọn, đư c hàn vào tuýp s t h nh tròn đường kính 2,7cm, dài 1,49m. - Thu tại g c nhà cạnh cửa t phòng ngủ ra phía sau nhà trọ của inh Văn T 01 chai nhựa màu tr ng, bên trong c ch t lỏng không màu, chai nhựa này không c n p, phần c chai nhựa c đai màu vàng qu n quAh. Tại bản kết luận giám định số 192/PC09-MT ngày 23/9/2020 của Phòng Kỹ thuật h nh sự Công A tỉnh Hà Nam kết luận: “Hình cầu rỗng của cóng thủy tinh màu trắng trong phong bì ký hiệu VV01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Methamphetamine”. Tại Biên bản xét nghiệm ch t ma t y của Trạm y tế thị tr n Tân ThAh, huyện TL ngày 21/9/2020 đối với inh Văn T, Nguyễn Thế H, Lê ức D; kết quả: T, H, D dương tính với ma t y loại Methamphetamine. Ngày 02/12/2020, Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL đã ra Công văn số 254/ CSKT-MT đ nghị Bệnh viện Tâm thần tỉnh Hà Nam xác định t nh trạng nghiện của Lê ức D. Tại phiếu trả lời kết quả v việc xác định t nh trạng nghiện ma t y ngày 07/12/2020 của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Hà Nam đối với Lê ức D kết quả: hiện tại Lê ức D không nghiện ma t y. Ngày 15/3/2021, Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 55/ CSKT-MT, trưng cầu Viện Khoa học h nh sự - Bộ Công A giám định 01 dao ph ng c t ng chi u dài 1,83m. Tại Bản kết luận giám định số 2035/C09-P3 ngày 26/3/2021 của Viện Khoa học h nh sự - Bộ Công A kết luận: “Mẫu vật gửi giám định thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ”. * V nguồn gốc số ma t y mà H, T và D sử dụng ngày 20/9/2020: quá trình đi u tra, H khai số ma t y trên là do H mua của một người tên Tu n huyện B nh Lục cách đ khoảng một tuần, với số ti n 200.000 đồng. H đã sử dụng một phần, còn một phần gi u cây cột điện gần nhà. Bản thân H chỉ nhớ Tu n c dáng người to đậm, t c c t ng n, cao khoảng 1m60, đi xe ga màu tr ng, không rõ xe g và biển kiểm soát xe. Ngoài lời khai của H thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; nên Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không c đủ căn cứ để xác minh làm rõ nguồn gốc số ma t y c ng như người bán ma t y cho H. Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTL ngày 30/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Nguyễn Thế H và inh Văn Thiết v tội T chức sử dụng trái phép ch t ma t y” theo điểm b, c khoản 2 i u 255 của Bộ luật H nh sự. * Tại phiên tòa: - ại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quA điểm truy tố đối với các bị cáo và đ nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế H và inh Văn Thiết phạm tội T chức sử dụng trái phép ch t ma t y”. p dụng điểm b, c khoản 2 i u 255, điểm s khoản 1, khoản 2 i u 51, i u 50, i u 38, i u 17, i u 58 đối với H và T), i u 90, i u 91, i u 101 đối với Thiết) của Bộ luật H nh sự - xử phạt Nguyễn Thế H t 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; inh Văn Thiết t 05 năm 06 tháng đến 06 năm t ; miễn h nh phạt b sung cho bị cáo H, không áp dụng h nh phạt b sung đối với bị cáo T. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 c ng thủy tinh đư c niêm phong trong phong b số 192/PC09-MT, 01 n p chai nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa dạng ống h t, 01 chai nhựa màu tr ng và 01 dao phóng. - Các bị cáo đ u thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh và c ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ h nh phạt. - Người đại diện h p pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Thiết nh t trí với tội dAh, khung h nh phạt mà đại diện Viện kiểm sát đ nghị áp dụng đối với bị cáo và đ nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo T. - Người c quy n l i, ngh a vụ liên quA đến vụ án không c yêu cầu, đ nghị g .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ sơ vụ án đã đư c trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] V hành vi, quyết định tố tụng của i u tra viên, Kiểm sát viên trong quá tr nh đi u tra, truy tố đã thực hiện đ ng v thẩm quy n, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh đi u tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không c ý kiến hoặc khiếu nại v hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đ u h p pháp. [2] Tại phiên toà c ng như tại Cơ quA đi u tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như nội D bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo đư c thẩm tra tại phiên tòa ph h p với Biên bản kiểm tra hành chính, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử c đủ cơ s để kết luận: bu i tối ngày 20/9/2020, tại phòng trọ của inh Văn T t dân phố Lãm, thị tr n Tân ThAh, huyện TL, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Thế H rủ inh Văn T và Lê ức D c ng nhau sử dụng ma t y thì T và D đồng ý. Sau đ , H và T đi l y ma t y (loại Methamphetamine) của H c t gi u cây cột điện gần nhà H, rồi mAg v phòng trọ của T. Tại đây, H, T và D cùng nhau sử dụng số ma t y trên, rồi đi ngủ. ến 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2020, lực lư ng Công A thị tr n Tân ThAh, huyện TL vào kiểm tra hành chính thì phát hiện vụ việc, nên đã tiến hành lập biên bản. [3] Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước v độc quy n quản lý các ch t ma tuý, gây ảnh hư ng x u đến A ninh chính trị địa phương, đến sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của con người. Bản thân các bị cáo c đủ năng lực trách nhiệm h nh sự; t chức sử dụng trái phép ch t ma t y đối với 02 người tr lên và đối với người t đủ 13 tu i đến dưới 18 tu i. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố Nguyễn Thế H và inh Văn Thiết v tội T chức sử dụng trái phép ch t ma t y” theo điểm b, c khoản 2 i u 255 của Bộ luật H nh sự là đ ng người, đ ng tội. ây là vụ án c nhi u đối tư ng tham gia nH tự phát, không c sự chuẩn bị, phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể, nên xác định là đồng phạm giản đơn. Xét v vai trò của các bị cáo trong vụ án th y rằng: Nguyễn Thế H là người kh i xướng việc sử dụng trái phép ch t ma t y, cung c p ma t y cho T và D sử dụng, nên giữ vai trò thứ nh t trong vụ án. inh Văn T là người trực tiếp đi l y ma t y c ng với H, l y c ng và c ng H cho ma t y vào c ng để các đối tư ng sử dụng tại phòng trọ do T quản lý, nên T là đồng phạm với H v hành vi T chức sử dụng trái phép ch t ma t y” và giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Lê ức D là người đã chuẩn bị chai nước để c ng H, T sử dụng trái phép ch t ma t y, nên đồng phạm với H và T với vai trò gi p sức v hành vi T chức sử dụng trái phép ch t ma t y”. Tuy nhiên, tại thời điểm ngày 20/9/2020, D mới 14 tu i 8 tháng 15 ngày, chưa đủ tu i chịu trách nhiệm h nh sự; nên Cơ quA đi u tra, Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm h nh sự đối với D. Xét v thân nhân các bị cáo và các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự th y rằng: V thân nhân: các bị cáo đ u chưa c ti n án, ti n sự. V t nh tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự nào. V t nh tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên đ u đư c hư ng t nh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 i u 51 của Bộ luật H nh sự. Ngoài ra, các bị cáo đ u có hoàn C gia đ nh kh khăn, đư c chính quy n địa phương xác nhận; nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo đư c hư ng t nh tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 i u 51 của Bộ luật H nh sự. Qua xem xét v nhân thân và các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, tính ch t, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; Hội đồng xét xử xét th y: cần áp dụng h nh phạt nghiêm kh c, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời giA mới c tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ng a chung. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội th inh Văn T là người dưới 18 tu i, nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật H nh sự đối với người dưới 18 tu i phạm tội khi quyết định h nh phạt đối với Thiết. [4] V h nh phạt b sung: xét th y, bị cáo H là lao động tự do, không c thu nhập n định, có hoàn C gia đ nh kh khăn, nên miễn h nh phạt b sung cho bị cáo H. Bị cáo Thiết là người dưới 18 tu i, nên theo quy định tại khoản 6 i u 91 của Bộ luật H nh sự th không áp dụng h nh phạt b sung đối với bị cáo Thiết. [5] V xử lý vật chứng: - ối với 01 c ng thủy tinh, 01 n p chai nhựa màu vàng đư c đục thủng hai lỗ, trong đ c một lỗ đư c c m b i một đoạn ống nhựa dạng ống h t dài 37,5cm và 01 chai nhựa màu tr ng, bên trong c ch t lỏng không màu: đây là vật mà các bị cáo d ng để sử dụng ch t ma t y, không c giá trị sử dụng; nên cần tịch thu, tiêu hủy. - ối với 01 dao ph ng: kết quả giám định là v khí c tính năng, tác dụng tương tự v khí thô; sơ nên cần tịch thu, tiêu hủy. [6] V các v n đ khác: - ối với 01 chiếc xe mô tô BKS 90B3-068.92 mà H và T sử dụng để đi l y ma t y: quá tr nh đi u tra xác định chiếc xe trên là tài sản h p pháp của ông Lê Tiến T2 (bố đẻ của Lê Tiến T1). Ngày 20/9/2020, T1 mư n chiếc xe trên của ông T2 để đi đến phòng trọ của T, sau đ H mư n và c ng T đi l y ma t y. Bản thân T1 không biết việc H, T mư n xe để đi l y ma t y; nên Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không thu giữ và xử lý đối với chiếc xe trên, là đ ng pháp luật. - ối với chiếc bật lửa và t i nilon đựng ma t y: T khai sau khi sử dụng xong ma túy, T đã đập vỡ chiếc bật lửa và đốt t i nilon đựng ma t y; nên Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không c căn cứ để truy t m. - ối với Lê ức D - sinh ngày 05/01/2006: quá tr nh đi u tra xác định ngày 20/9/2020, khi H kh i xướng việc sử dụng ma t y th D đồng ý ngay. Sau khi th y H và T mAg ma t y v , D đã chuẩn bị chai nước để c ng H và T t chức sử dụng trái phép ch t ma t y tại phòng trọ của T. Như vậy, hành vi của D đã đồng phạm với H và T v tội T chức sử dụng trái phép ch t ma t y”. Tuy nhiên, vào ngày 20/9/2020 khi thực hiện hành vi phạm tội D mới 14 tu i 8 tháng 15 ngày; căn cứ vào khoản 2 i u 12 của Bộ luật H nh sự th D không phải chịu trách nhiệm h nh sự v hành vi phạm tội của bản thân. Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D v hành vi này, là đ ng pháp luật. - ối với việc inh Văn T, Lê Tiến T1 và Lê ức D khai nhận: vào khoảng gần 23 giờ ngày 17/9/2020, T đAg dưới bếp phòng trọ của m nh thì th y cạnh chân bếp c 01 bộ dụng cụ sử dụng ma t y và th y bên trong c ng thủy tinh còn bám dính ch t màu tr ng. T ngh là ma t y, nH không biết của ai, nên T đã bật lửa đốt cho ch t màu tr ng trong c ng n ng lên, rồi sử dụng bằng h nh thức hít 02 kh i. C ng l c này, T1 đi xuống th y T đAg sử dụng, nên T1 cầm bộ dụng cụ sử dụng ma t y mà T v a sử dụng để dưới n n bếp lên và c ng sử dụng đư c khoảng 02 kh i bằng h nh thức hít trực tiếp vào cơ thể. Khi cả hai sử dụng xong, T cầm bộ sử dụng ma t y c ng T1 đi lên trên phòng th gặp D. Th y T cầm lên, D xin T để sử dụng th T bảo D: “Mày chưa chơi bao giờ thì đừng có chơi”. Tuy nhiên, D vẫn l y bộ sử dụng ma t y trong tay T và tự sử dụng bằng h nh thức hít trực tiếp vào cơ thể. Sử dụng xong, D đưa lại cho T, T mAg bộ dụng cụ sử dụng ma t y ra tháo phần n p chai g n c ng và ống h t c t bụi cỏ đối diện phòng trọ rồi đi ngủ. Quá tr nh đi u tra xác định, số ma t y các đối tư ng sử dụng không biết của ai và đã sử dụng hết. Các đối tư ng c ng không bàn bạc, thống nh t v việc sử dụng trái phép ch t ma t y tại phòng trọ của T. Mặt khác, Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không thu giữ đư c vật chứng để giám định, xác định loại ma t y, khối lư ng cụ thể; nên đã tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ, khi c đủ căn cứ sẽ xử lý sau, là ph h p với quy định của pháp luật. - ối với Lê Thị Th y TrAg - sinh ngày 04/5/2004: quá tr nh đi u tra xác định TrAg là người chưa thành niên, không phải đối tư ng nghiện ma t y, nhận thức pháp luật và hiểu biết v ch t ma t y hạn chế. Ngày 20/9/2020, TrAg đAg trong phòng và không biết việc H, T, D rủ nhau sử dụng trái phép ch t ma t y. TrAg chỉ th y H bỏ một vật t trong t i quần ra, TrAg không rõ là gì; sau đ , TrAg nằm chơi điện thoại, đến khi TrAg ngẩng đầu lên th th y D đAg nhả kh i t trong miệng, H và T ngồi cạnh D, giữa ba người c một chiếc chai nhựa bên trong c nước, n p chai c g n ống h t nhựa và một vật màu tr ng TrAg không biết là g , sau đ TrAg đi ngủ. Ngoài ra, trong quá tr nh khai báo, TrAg có khai nhận trước đ c 01 lần d ng ma t y t ng h p, nH TrAg không nhớ sử dụng đâu và c ng ai. Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL đã tập trung đ u trAh, song ngoài lời khai của TrAg thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do đ , Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không c căn cứ xử lý đối với TrAg v hành vi Không tố giác tội phạm” hoặc Che gi u tội phạm” và hành vi Sử dụng trái phép ch t ma t y”, là đ ng pháp luật. - ối với Nguyễn Văn Phi - sinh ngày 14/11/2002: quá tr nh đi u tra xác định Phi không phải người nghiện ch t ma t y, hiểu biết pháp luật hạn chế. Ngày 20/9/2020, Phi ngủ tại phòng trọ của T, đến khoảng 23 giờ 30 ph t th y ồn ào nên Phi m m t ra th th y T đAg bật lửa đốt rồi h t ma túy, H và D ngồi bên cạnh. Do mệt nên Phi ngủ tiếp, đến khoảng 00 giờ ngày 21/9/2020 th lực lư ng Công A vào kiểm tra, Phi không biết ai là người kh i xướng việc sử dụng trái phép ch t ma t y và c ng không tham gia sử dụng trái phép ch t ma t y c ng H, T và D. Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL đã đ u trAh với Phi nhi u lần; tuy nhiên, ngoài lời khai của Phi thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; nên chưa đủ cơ s chứng minh Phi c hành vi Không tố giác tội phạm” hoặc Che gi u tội phạm”. Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL tách ra, tiếp tục làm rõ, khi c đủ căn cứ sẽ xử lý sau là ph h p. Ngoài ra, quá tr nh đi u tra Phi còn khai nhận trước đ Phi c sử dụng ma t y tại phòng trọ của T, nH Phi không nhớ cụ thể thời giA nào, c ng với ai, ai là người cung c p ma t y, loại ma túy c ng như số lư ng, trọng lư ng cụ thể ma t y như thế nào. Ngoài lời khai của Phi thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; nên Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không c căn cứ để xử lý Phi v hành vi Sử dụng trái phép ch t ma túy”, là c căn cứ. - ối với Lê Thị D - sinh ngày 24/10/2003: quá tr nh đi u tra xác định, D không phải người nghiện ch t ma t y, c ng chưa sử dụng trái phép ch t ma t y lần nào, hiểu biết và nhận thức v ch t ma t y hạn chế. Ngày 20/9/2020, D có mặt tại phòng trọ của inh Văn T. Tuy nhiên, D không tham gia sử dụng ma t y cùng H, T và D. Khi các đối tư ng trên rủ nhau sử dụng trái phép ch t ma t y thì D không nghe th y, D chỉ th y H, T và D ngồi quAh một chai nhựa c g n ống h t và ống thủy tinh, rồi h t và nhả kh i. ến khi lực lư ng Công A kiểm tra, D mới biết H, T và D v a sử dụng trái phép ch t ma t y. Ngoài lời khai của D th không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; v vậy Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không xem xét xử lý đối với D v hành vi Không tố giác tội phạm” hoặc Che gi u tội phạm”, là c căn cứ. - ối với Lê Tiến T1 - sinh ngày 06/6/2004: quá tr nh đi u tra xác định T1 là người chưa thành niên, không phải là người nghiện ch t ma t y, hiểu biết pháp luật hạn chế. Ngày 20/9/2020, T1 phòng trọ của T. Khi T, D và H kh i xướng việc sử dụng trái phép ch t ma t y th T1 trong phòng, không biết gì. T1 chỉ biết H và T l y xe đi đâu một lúc, rồi tr v phòng; sau đ , T1 đi ngủ. ến khoảng 23 giờ 30 ph t, nghe th y tiếng ồn th T1 dậy và th y T, H, D sử dụng ma t y; sau đ T1 ngủ tiếp đến cho khi lực lư ng Công A vào kiểm tra. T1 không biết ai là người kh i xướng việc sử dụng trái phép ch t ma t y và c ng không tham gia sử dụng trái phép ch t ma t y c ng H, T và D. Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL đã đ u trAh với T1 nhi u lần, nH ngoài lời khai của T1 thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; nên chưa đủ cơ s chứng minh T1 có hành vi Không tố giác tội phạm” hoặc Che gi u tội phạm”. V vậy, Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL tách ra, tiếp tục làm rõ, khi c đủ căn cứ sẽ xử lý sau, là ph h p. Ngoài ra, quá tr nh đi u tra T1 khai nhận trước đ T1 c lần sử dụng ma t y tại phòng trọ của T, nH T1 không nhớ cụ thể thời giA nào, cùng với ai, ai là người cung c p ma t y, loại ma t y c ng như số lư ng, trọng lư ng cụ thể ma t y như thế nào. Ngoài lời khai của T1 thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác; nên Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không c căn cứ để xử lý T1 v hành vi Sử dụng trái phép ch t ma t y”, là c căn cứ. - ối với 01 dao ph ng thu giữ tại phòng trọ của inh Văn T: quá trình đi u tra xác định con dao này là của Nguyễn Thế H. H khai nhận con dao trên H d ng để chặt cây, do một người bạn của H mAg đến phòng trọ của T trước đ , do lâu ngày nên H không nhớ là ai mAg đến. Kết luận của Viện khoa học h nh sự - Bộ Công A xác định con dao trên thuộc v khí c tính năng, tác dụng tương tự như v khí thô sơ. Tuy nhiên, tại thời điểm phát hiện, thu giữ không chứng minh đư c việc H c t giữ để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Bản thân H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính c ng như bị kết án mà chưa đư c x a án tích v hành vi tàng trữ v khí thô sơ; nên Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không xem xét xử lý đối với H v hành vi Tàng trữ v khí thô sơ”, là c căn cứ. - ối với ông Lại Vi A và bà Nguyễn Thị N1: ông A và bà N1 là người cho inh Văn T thuê nhà. Quá trình cho thuê nhà, hai bên c lập h p đồng. Sau khi cho T thuê nhà, gia đ nh ông A sống và sinh hoạt tại thôn HN, xã ThAh Hà, huyện TL; nên ông bà không biết T c ng ai, làm g trong phòng trọ mà T thuê. V vậy, Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL không xem xét xử lý đối với ông A và bà N1, là c căn cứ. [7] V án phí: các bị cáo phải nộp án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 i u 255, điểm s khoản 1, khoản 2 i u 51, i u 38, i u 17, i u 58 đối với Nguyễn Thế H, inh Văn T), i u 90, i u 91, i u 101 đối với inh Văn Thiết) và i u 47 của Bộ luật H nh sự; i u 106 và i u 136 của Bộ luật Tố tụng h nh sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội, 1. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thế H, inh Văn T phạm tội T chức sử dụng trái phép ch t ma t y”. + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 08 tám) năm t , thời hạn ch p hành h nh phạt t tính t ngày bị tạm giữ là 25/01/2021. + Xử phạt bị cáo inh Văn T 05 năm) năm 06 sáu) tháng t , thời hạn ch p hành h nh phạt t tính t ngày b t đi thi hành án. 2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 c ng thủy tinh đư c niêm phong trong phong b số 192/PC09-MT; 01 n p chai nhựa màu vàng đư c đục thủng 02 lỗ, trong đ 01 lỗ đư c c m b i 01 đoạn ống nhựa dạng ống h t dài 37,5cm; 01 chai nhựa màu tr ng, bên trong c ch t lỏng không màu; 01 dao ph ng (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/7/2021 giữa Cơ quA C sát đi u tra - Công A huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL). 3. V án phí: các bị cáo Nguyễn Thế H và inh Văn Thiết mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ hai trăm ngh n đồng) án phí h nh sự sơ thẩm. 4. Quy n kháng cáo đối với bản án: các bị cáo, người đại diện h p pháp của bị cáo, người bào chữa và người c quy n l i, ngh a vụ liên quA đến vụ án c mặt tại phiên tòa, đư c quy n kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Người c quy n l i, ngh a vụ liên quA đến vụ án và người đại diện h p pháp của người c quy n l i, ngh a vụ liên quA đến vụ án v ng mặt tại phiên tòa, đư c quy n kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể t ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết. 5. Quy n yêu cầu thi hành án, ngh a vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại i u 2 Luật Thi hành án dân sự th người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quy n thỏa thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các đi u 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại i u 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: - TAD tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện TL; - Công A huyện TL; - Chi cục THA DS huyện TL; - S Tư pháp tỉnh Hà Nam; - C ng thông tin điện tử của Tòa án; - Các bị cáo; - Người bào chữa; - Người đại diện h p pháp của bị cáo; - Người c quy n l i, ngh a vụ liên quA đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lại X ân C |