vanban.org

Bản án 64/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 15/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá A phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Bá A phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T giá trị tài sản bị thiệt hại, số tiền 3.520.000 (ba triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá A phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá A phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2020/HS-ST
Ngày 15-5-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Ngọc Khanh và bà Nguyễn Thị Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN BÁ A, sinh năm 1977; ĐKHKTT: XX Khu tập thể TXB, phường TXB, quận TX, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Bùi Thị M; có vợ là Nguyễn Thị V và 02 con;

Tiền án:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 425/HSST ngày 16/6/1995 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hình sự phúc thẩm số 1363 ngày 16/10/1995 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Nguyễn Bá A 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; chưa được xóa án tích;

- Bản án hình sự sơ thẩm số 21HS/ST ngày 05/3/1999 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Bá A 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; chưa được xóa án tích;

- Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2000/HSST ngày 20/10/2000 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Bá A 38 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chưa được xóa án tích;

- Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 12/01/2004 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và Bản án hình sự phúc thẩm số 05/HSPT ngày 11/3/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Bá A 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 1992, Nguyễn Bá A bị Công an quận Đống Đa đưa đi trường giáo dưỡng về hành vi cưỡng đoạt tài sản công dân;

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2019; hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn DH, xã TL, huyện VG, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn ĐL, xã ĐL1, huyện HĐ1, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số YY Ngõ Z Tổ Dân phố số 2 NT, phường ĐM, quận NTL, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

3. Anh Hà Văn D1, sinh năm 1983; ĐKHKTT: Số xx Tổ y, phường TB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình; nơi ở: Số xxx Ngõ yy YX, xã TT, huyện TT1, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

4. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; ĐKHKTT: Số xx Tổ y, phường TB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình; nơi ở: Số xxx Ngõ yy YX, xã TT, huyện TT1, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

5. Chị Đặng Thị Thanh H1, sinh năm 1975; nơi ở cư trú: Thôn ĐL2, xã HĐ2, huyện CM, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 24/12/2019, Nguyễn Bá A cùng Nguyễn Thị Tuyết L, là bạn gái của A đến khu vực Chợ đêm nông sản Văn Quán. Sau đó, A đi bộ vào khu vực bãi để xe ôtô của chợ và nhặt cục bêtông ở dưới đất ném vỡ kính chắn gió phía trước của xe ôtô tải nhãn hiệu Huyndai Poster màu xanh, biển kiểm soát: 89C-047.26 của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; ĐKHKTT: xã TL, huyện VG, tỉnh Hưng Yên (là lái xe chở rau củ quả đến chợ bán và gửi xe trong bãi), rồi bỏ đi ra ngoài. Hậu quả: Chiếc xe ôtô BKS: 89C-047.26 bị vỡ kính chắn gió phía trước. Vật chứng thu giữ: 01 (một) viên bêtông.

Cùng ngày, anh T đến Công an phường Văn Quán, quận Hà Đông trình báo sự việc trên.

Tại Biên bản định giá tài sản số 27/BB-HĐĐG và Kết luận định giá tài sản số 27KL-HĐĐG ngày 24/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông, kết luận: 01 (một) kính chắn gió phía trước xe ôtô nhãn hiệu HUYNDAI Poster 1 tấn, BKS: 89C-047.26, đã qua sử dụng, bị vỡ kính trị giá 3.520.000 (ba triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng.

Ngày 25/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Bá A và Viện kiểm sát phê chuẩn.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Bá A không khai nhận hành vi phạm tội của mình, không ký vào các văn bản tố tụng.

Cáo trạng số 61/CT-VKS-HĐ ngày 31/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Bá A về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo theo điểm g khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo không nhận hành vi phạm tội, đề nghị được đối chất với những người làm chứng và đề nghị thu dấu vết vân tay trên viên bê tông vật chứng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa bị cáo không nhận tội nhưng căn cứ các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên nội dung truy tố. Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây hoang mang trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo. Bị cáo không thành khẩn khai báo nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá A từ 28 đến 32 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 3.520.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy viên bê tông là vật chứng của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Những người làm chứng trong vụ án khai như sau:

Anh Nguyễn Văn C khai:

- Khoảng 4 giờ sáng ngày 24/12/2019, khi tôi đang bốc hàng lên xe ôtô của tôi, tôi tận mắt nhìn thấy một người đàn ông có tên là A cầm trên tay phải một viên gạch màu xi măng có kích thước khoảng (20x25)cm dày khoảng 06cm đập thẳng vào kính chắn gió phía trước vị trí bên lái của chiếc xe ôtô tải màu xanh nhãn hiệu Huyndai có BKS 89C-047.26… Ngoài ra tôi không thấy A đập xe nào khác (BL192);

- Tôi nhìn thấy Nguyễn Bá A dùng cục bê tông ném vào kính chắn gió xe ôtô 89C-047.26 tại bãi đỗ xe chợ nông sản Văn Quán. Tôi nhìn thấy Nguyễn Bá A đứng cách đầu xe 89C-047.26 khoảng 1m, dùng cục bê tông ném thẳng vào kính chắn gió phía trước xe vị trí bên lái của chiếc xe ôtô tải màu xanh nhãn hiệu Huyndai có BKS 89C-047.26 (cũng có thể hiểu việc dùng cục bê tông ném vào kính chắn gió xe ôtô trên là hành vi “đập” kính xe, vì khoảng cách rất gần 1m (BL194). Sau khi đập vỡ kính xe, A ra chỗ đỗ xe của anh D1 bán dứa. Anh D1 đưa cho A 4-5 quả dứa… Tôi đứng cách A khoảng 10m vì xe của tôi gần xe 89C-047.26, điều kiện ánh sáng tốt, cạnh xe là đèn cao áp nên tôi quan sát chính xác hành vi của A. Ngoài tôi còn có anh Nguyễn Văn D và người phụ nữ đi cùng A chứng kiến (BL195);

- Tại các bản tự khai, anh C khai như nội dung trên (BL196, 201). Đồng thời, anh C nhận dạng ảnh xác nhận Nguyễn Bá A là người đập xe ôtô 89C-047.26 (BL197 đến 199).

Anh Nguyễn Văn D khai:

- Khoảng 5 giờ ngày 24/12/2019, tôi thấy A đi cùng một người phụ nữ, khi đến trước đầu xe 89C-047.26 cách khoảng 1m thì A có nhặt một viên bê tông ở dưới đất, dùng tay phải ném vào kính chắn gió phía trước của chiếc xe trên rồi bỏ đi cùng người phụ nữ, toàn bộ kính nứt vỡ (BL202);

- Tôi thấy Nguyễn Bá A tay phải cầm một viên bê tông nhặt tại đầu xe ôtô BKS 89C-047.26 rồi cầm lên ném về phía kính chắn gió của chiếc xe ôtô khiến xe ôtô này bị vỡ nứt kính… Vị trí tôi đứng cách vị trí A ném vỡ kính ôtô khoảng 30m, hơn nữa vị trí xe ôtô bị đập đỗ xe sát cột đèn nên tôi có thể nhìn rõ được (BL204). Vị trí A đứng ném cục bê tông cách xe ôtô khoảng 1m… sau khi ném vỡ kính ôtô thì cục bê tông mắc vào cần gạt nước xe ôtô BKS 89C-047.26 mà A vừa ném (BL205);

- Tại BL206, 207, anh D khai như nội dung trên và khai: Ngoài anh D chứng kiến sự việc trên thì còn có anh Nguyễn Văn C đứng cách anh D khoảng 5-10m cũng chứng kiến sự việc trên.

- Tại các bản tự khai, anh D khai như nội dung trên (BL208 đến 210). Đồng thời, anh D nhận dạng ảnh xác nhận Nguyễn Bá A là người đập xe ôtô 89C-047.26 (BL212 đến 214).

Ngoài hai người làm chứng trực tiếp chứng kiến hành vi phạm tội của bị cáo, một số người khác khai thấy A xuất hiện tại chỗ chiếc xe bị đập tại thời điểm xảy ra vụ án.

- Anh Hà Văn D1 là người bán dứa tại chợ khai: anh D1 không nhìn thấy A đập vỡ kính xe nhưng thời điểm ngay sau khi nghe tiếng bộp, anh D1 chạy vòng ra phía sau xe ôtô của mình thì nhìn thấy A đang đứng sát vị trí đỗ xe ôtô 89C-047.26, xe 89C-047.26 bị vỡ kính, khi đó A đi ra và ra chỗ anh D1 lấy dứa (BL218 đến 222).

- Chị Nguyễn Thị H là người bán dứa tại chợ khai khi nghe thấy tiếng đập, chị H quay lại phía đằng sau thì thấy A đi qua gần vị trí xe 89C-047.26. Vị trí xe của chị H cách xe 89C-047.26 khoảng 3m (BL226 đến 227C). Đồng thời chị H nhận dạng ảnh xác định A xuất hiện tại bãi gửi xe tại thời điểm vụ án xảy ra (BL228 đến 230).

Như vậy, có hai người làm chứng trực tiếp chứng kiến toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và 02 người nhìn thấy A xuất hiện tại địa điểm và thời gian vụ án xảy ra. Lời khai của những người làm chứng phù hợp với nhau, những người làm chứng này không mâu thuẫn với bị cáo Nguyễn Bá A. Lời khai của những người làm chứng là khách quan, được sử dụng làm chứng cứ của vụ án.

Đối với đề nghị của bị cáo về việc đối chất với những người làm chứng: Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về việc vắng mặt của những người làm chứng; đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử vụ án do những người làm chứng đã được khai báo trong giai đoạn điều tra là lời khai được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng, bị cáo cũng không có ý kiến gì nên đề nghị của bị cáo trong phần tranh luận được đối chất với người làm chứng không được chấp nhận.

Đối với đề nghị giám định dấu vân tay trên viên bêtông: Căn cứ Biên bản thu giữ vật chứng, 01 viên bêtông có đặc điểm không rõ hình thù, có nhiều góc cạnh xù xì nên việc đại diện Viện kiểm sát có quan điểm tranh luận cho rằng việc thu giữ vân tay không thực hiện được là có cơ sở; mặt khác, trong giai đoạn điều tra, truy tố, bị cáo không có đề nghị. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của bị cáo.

Như vậy, mặc dù bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội nhưng căn cứ lời khai của những người làm chứng có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 24/12/2019, tại khu vực bãi để xe Chợ đêm Nông sản Văn Quán, phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Nguyễn Bá A đã dùng viên bê tông đập vỡ kính chắn gió phía trước chiếc xe ôtô HUYNDAI Poster 1 tấn, sơn màu xanh, BKS 89C- 047.26 của anh Nguyễn Văn T, trị giá tài sản bị thiệt hại 3.520.000 đồng.

Bị cáo là người có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình nên phải biết rõ việc sử dụng viên bê tông ném vào kính chắn gió xe ôtô sẽ làm cho kính vỡ nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bá A là cố ý làm hư hỏng tài sản, giá trị tài sản bị hư hỏng là 3.520.000 đồng nên hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nhân thân bị cáo đã 04 lần bị kết án:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 425/HSST ngày 16/6/1995 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hình sự phúc thẩm số 1363 ngày 16/10/1995 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Nguyễn Bá A 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/11/1997.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 21HS/ST ngày 05/3/1999 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Bá A 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; bị cáo phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/1999; nộp án phí ngày 05/3/1999.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2000/HSST ngày 20/10/2000 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Bá A 38 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo phải bồi thường cho anh Phan Văn T1 6.700.000 đồng; phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 335.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2003; đã nộp án phí ngày 12/12/2002; Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân chưa nhận được đơn yêu cầu thi hành án của bị hại (xác minh ngày 13/3/2020).

- Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 12/01/2004 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và Bản án hình sự phúc thẩm số 05/HSPT ngày 11/3/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Bá A 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 40.000 đồng; phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2006. Đã nộp án phí ngày 24/9/2004. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ từ năm 2004 đến ngày 14/5/2020 chị T2 chưa yêu cầu thi hành án.

Bị cáo đã nộp tiền án phí theo quyết định của tất cả các bản án nhưng bị cáo chưa bồi thường cho các bị hại theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 12/01/2004 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2000/HSST ngày 20/10/2000 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận chưa bồi thường, thể hiện bị cáo chưa chấp hành xong các bản án này. Áp dụng Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo chưa được xóa án tích đối với các bản án này.

Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2000/HSST ngày 20/10/2000 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; Bản án hình sự sơ thẩm số 21HS/ST ngày 05/3/1999 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Áp dụng khoản 2 Điều 73 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về cách tính thời hạn xóa án tích thì cả 04 tiền án của bị cáo đều chưa được xóa án tích.

Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 12/01/2004 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và Bản án hình sự phúc thẩm số 05/HSPT ngày 11/3/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Áp dụng các điều 53 và 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích lại phạm tội nên lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều lần phạm tội xâm phạm quyền sở hữu về tài sản, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong giai đoạn điều tra, anh T yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản bị thiệt hại, do đó buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị thiệt hại, số tiền 3.520.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 viên bê tông, là vật chứng của vụ án, xét không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy.

Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam được tính trừ một ngày tù. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá A phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá A 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2019.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Bá A phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T giá trị tài sản bị thiệt hại, số tiền 3.520.000 (ba triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 (một) viên bê tông.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Bá A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/5/2020; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn) nơi đương sự cư trú, hoặc cư trú cuối cùng.

Cỡ chữ