vanban.org

Bản án 64/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 10/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/01/2017. Về trách nhiệm dân sự: Tách phần bồi thường liên quan đến những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị A, Phạm Nguyên T, Lê Thị Kim H, Nguyễn Nhã V để giải quyết r… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2017/HSST
Ngày: 10/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Điểm

Ông Nguyễn Khoa Việt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Cảnh – Kiểm sát viên.

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 8 năm 2017; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1989 tại Phú Yên; tên gọi khác: B; trú tại: đường N, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Nguyễn N (chết) và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1965; có vợ là Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1992 và 02 con; tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 28/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2014 nhưng đến nay chưa chấp hành xong phần án phí.

Nhân thân: - Ngày 14/11/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong bản án ngày 30/11/2009.

- Ngày 11/8/2013 bị Công an phường H, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 150.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/01/2017. Có mặt.

* Người bị hại:

- Anh Lê Trọng N, sinh năm: 1992; trú tại: khu phố N1, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Chị Võ Thị Ý N, sinh năm: 1993; trú tại: đường N, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Hữu T, sinh năm: 1993; trú tại: đường T, phường S, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Anh Phạm Nguyên T, sinh năm: 1991; trú tại: khu phố N5, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Ông Lê Trọng N1, sinh năm: 1970; trú tại: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Ủy quyền cho anh Lê Trọng N, sinh năm: 1992; địa chỉ: khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên làm đại diện. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Chị Lê Thị Kim H, sinh năm: 1985; trú tại: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Nhã V, sinh năm: 1985; trú tại: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Bà Lê Thị A, sinh năm: 1973; trú tại: khu phố H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/01/2017, Nguyễn Ngọc T đi bộ ngang qua nhà đường N, phường H, T thì phát hiện xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 78G1-204.89 (xe bị hư ổ khóa) của Võ Thị Ý N đang dựng trước nhà, không người trông coi. T nảy sinh ý định chiếm đoạt nên lấy trộm đem đến nhà của Trần Hữu T, địa chỉ: đường T, phường S, T. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Thị Tố M và Lại Nhật H mượn T xe mô tô đi mua đồ ăn tại quán T (trước Cục thuế tỉnh Phú Yên) thuộc phường B, thành phố T thì bị phát hiện.

Tại Kết luận định giá tài sản kết luận xe môtô Yamaha Sirius, biển số 78G1-204.89 trị giá 11.000.000 đồng.

Qua điều tra còn xác định: Ngày 07/01/2017, Trần Hữu T gọi điện cho Nguyễn Ngọc T nhờ tìm một xe mô tô giá rẻ để bán lại cho bạn là Phạm Nguyên T, Ngọc T đồng ý. Đến khoảng 19 giờ ngày 09/01/2017, Nguyễn Ngọc T đến trước nhà chị Huỳnh Thị Kim H ở khu phố N1, phường C phát hiện xe Yamaha Sirius biển số 78L1-032.71 của Lê Trọng N, không người trông coi, Ngọc T lén lấy trộm đem đến nhà Hữu T bán cho Nguyên T được 3.500.000 đồng. Hữu T được Ngọc T cho 500.000 đồng. Sau đó, Nguyên T thế chấp xe cho Lê Thị Kim H lấy 3.000.000 đồng, chị H tiếp tục thế chấp xe cho Nguyễn Nhã V lấy 3.000.000 đồng. Ngày 18/01/2017, V sử dụng thì bị Công an phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản kết luận xe môtô Yamaha Sirius, biển số 78L1-032.71 trị giá 10.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 02 xe mô tô đã thu giữ, trả cho người bị hại.

Tại Bản cáo trạng số 47/VKS-HS ngày 09/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX xét xử theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng: không xem xét. Về án phí, bị cáo phải chịu theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 09/01/2017, trước nhà trọ chị Huỳnh Thị Kim H ở khu phố N1, phường C, thành phố T và khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/01/2017, tại nhà đường N, phường H, thành phố T, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi lén lút lấy trộm các xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78L1-032.71 của anh Lê Trọng N và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78G1-204.89 của chị Võ Thị Ý N, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 21.000.000 đồng; nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án: Ngày 28/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2014 nhưng đến nay chưa chấp hành xong phần án phí, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội; trong thời gian ngắn, bị cáo đã thực hiện 02 hành vi phạm tội trên địa bàn thành phố T. Đây là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” và “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm học tập cải tạo tốt.

Đối với Trần Hữu T, Phạm Nguyên T, Lê Thị Kim H, Nguyễn Nhã V có hành vi mua bán, tiêu thụ tài sản trộm cắp nhưng không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa không khởi tố, điều tra là đúng quy định.

- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả cho những người bị hại. Người bị hại anh Lê Trọng N, chị Võ Thị Ý N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Trọng N1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

Riêng đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78G1-204.89, đứng tên Lê Thị A. Theo lời khai của người bị hại chị Võ Thị Ý N thì chị mua xe này của bà A vào năm 2013, nhưng đã làm mất giấy tờ mua bán. Tại biên bản xác minh ngày 19/01/2017 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuy Hòa thì bà A không bị mất xe và hiện không có mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bà tham gia phiên tòa nhưng bà vắng mặt; do đó, nếu sau này có tranh chấp đối với xe mô tô Yamha Sirius biển kiểm soát 78G1-204.89 thì bà A được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Nguyên T, Lê Thị Kim H, Nguyễn Nhã V đều vắng mặt tại phiên tòa, tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, đều không có yêu cầu bồi thường gì về số tiền đã mua bán xe; nếu sau này có yêu cầu thì được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/01/2017.

- Về trách nhiệm dân sự: Tách phần bồi thường liên quan đến những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị A, Phạm Nguyên T, Lê Thị Kim H, Nguyễn Nhã V để giải quyết riêng bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

- Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ