- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 138 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:64/2017/HS-ST Ngày 08-9-2017 |
NHÂN F
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công.
2. Bà Nguyễn Thị Thọ
Thư ký Tòa án: Bà Vương Thị Thùy Trang– Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy– Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố (Số 05 Huỳnh Ngọc Hay, phường phước Hiệp, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017 đối với:
Bị cáo: Lê N, sinh năm: 1987 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; hộ khẩu thường trú: Tổ 12, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 09/12;Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Con ông Lê K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1956.
Tiền sự: ngày 16/7/2016 bị công an phường L xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 0000039/QĐ-XPHC ngày 16/7/2016 nhưng bị cáo chưa chưa chấp hành Quyết định này.
Tiền án: Không.
Bị bắt tạm giam ngày 31/5/2017.
Bị cáo được dẫn giải trước phiên tòa
Người bị hại: Bà Lê Thị P, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt);
Trú tại: Số 102A, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1969 (có mặt);
Trú tại: Tổ 1, khu phố X, phường I , thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994(có mặt);
Trú tại: Tổ 1, khu phố X, phường I, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người làm chứng: Nguyễn Kim P, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Trú tại: Tổ 2, khu phố H , phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 09/5/2017, Nguyễn Văn Q điều khiển xe máy biển số 72N2-0372 chở Lê N đi uống cà phê. Khi đi qua cửa hàng gas F trên đường Cách Mạng Tháng Tám tổ 11, khu phố H, phường L, thành phố B do bà Lê Thị P sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: tổ 11, khu phố H , phường L, thành phố B làm chủ, thì phát hiện cửa mở và không có người trông coi nên cả hai nảy sinh ý định trộm cắp bình gas bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, N ngồi trên xe chờ bên ngoài còn Q lén lút vào trong cửa hàng lấy trộm 01 bình gas nhãn hiệu Vinashin, loại 12 kg đem ra chỗ N đợi và cả hai tẩu thoát. Lúc này, bà P từ trong nhà đi ra phát hiện tri hô đồng thời phối hợp cùng với quần chúng nhân dân và Công an phường L đã bắt quả tang N, Q cùng tang vật.Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Lê N và Nguyễn Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Theo thông báo về việc kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bà Rịa kết luận, tài sản bị chiếm đoạt là 01 bình gas hiệu Vinashin, màu xám loại 12kg (bình còn đầy gas, chưa sử dụng) trị giá 540.000đ ( Năm trăm bốn mươi nghìn đồng)
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 45/QĐ-ĐT/ĐTTH ngày 26/5/2017 giao trả 01 bình gas nhãn hiệu Vinashin, loại 12kg cho người bị hại là bà Lê Thị P,
01 xe máy Honda màu đỏ-xám-đen biển số 72N2-0372, số máy: HC12E1616179, số khung: 12069Y070405 qua xác minh là của bà Phạm Thị N sinh năm 1988; trú tại: khu phố N, phường I, thành phố B đứng tên chủ sở hữu. Bà N đã bán lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H sinh năm 1969; trú tại tổ 1, khu phố X, phường I, thành phố Bà Rịa, là mẹ của Nguyễn Văn Q, nhưng không làm giấy tờ mua bán, chưa sang tên chủ sở hữu. Ngày 09/5/2017, Q mượn xe máy trên của bà H đi chơi. Bà H không biết Q sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 53/ĐT/ĐTTH ngày 26/6/2017 giao trả chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc H.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Lê Thị P sau khi nhận lại tài sản là bình gas nhãn hiệu Vinashin, loại 12kg không yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc H sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe máy màu đỏ-xám-đen biển số 72N2-0372, số máy: HC12E1616179, số khung: 12069Y070405 không yêu cầu gì thêm.
- Tại bản Cáo trạng số: 65 /QĐ-KSĐT ngày 15/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Lê N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm g,h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N từ 06 đến 09 tháng tù
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với mẹ già.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê N khai không có sự mâu Pẫn. Lê N đều thừa nhận hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà Lê Thị P. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 09/5/2017, tại cửa hàng gas F trên đường Cách Mạng Tháng Tám tổ 11, khu phố H, phường L, thành phố B. Lê N và Nguyễn Văn Q có hành vi lén lút trộm cắp 01 bình gas nhãn hiệu Vinashin, loại 12kg (còn đầy ga, chưa sử dụng) của bà Lê Thị P, trị giá tài sản chiếm đoạt là 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tài sản chiếm đoạt trị giá dưới 2.000.000đ. Tuy nhiên, ngày 16/7/2016 Lê N bị công an phường L ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy, Lê N chưa thi hành đóng tiền phạt. Vì thế hành vi của N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Riêng Nguyễn Văn Q, ngày 20/6/2014 bị Tòa án thành phố Bà Rịa tuyên phạt 18 tháng tù tội cưỡng đoạt tài sản, Q đã được xóa án tích nên hành vi của Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Hành vi nêu trên của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì bản tính tham lam lười lao động, nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này tuy dưới hai triệu đồng nhưng do ngày 16/7/2016 bị cáo đã bị công an phường L ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa thi hành đóng tiền phạt nên hành vi trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người đã trưởng thành, lẽ ra bị cáo phải lo kiếm việc lương thiện để làm, tuy nhiên do bản tính thích hưởng thụ nhưng lại lười lao động nên khi thấy điều kiện thuận lợi là bị cáo nảy sinh ý định phạm tội ngay. Với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình, từ bỏ thói quen trộm cắp để làm ăn lương thiện; đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thiệt hại do bị cáo gây ra không lớn, tài sản bị thiệt hại cũng đã được thu hồi trả cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật theo quy định tại các điểm g,h,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại bà Lê Thị P không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc H không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Q ngày 20/6/2014 bị Tòa án thành phố Bà Rịa tuyên phạt 18 tháng tù tội cưỡng đoạt tài sản, tính đến thời điểm hiện nay Q đã được xóa án tích nên hành vi của Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” Viện kiểm sát không truy tố bị cáo là phù hợp với quy định.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại cơ quan cảnh sát điều tra Công thành phố Bà Rịa.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138 điểm g,h,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê N (06) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 31/05/2017
2. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa.
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 27 – Công an tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Bà Rịa; - Công an thành phố Bà Rịa; - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Thị Hiền |