- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Trần Thị T - Viện kiểm sát nhân dân quận Y"
- Tòa quyết gì? 1. Buộc Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường cho bà Trần Thị T thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút số tiền 7.
- Căn cứ chính? Nghị định số 38/2019/NĐ-CP Quy định mức lương cơ sở đối với…; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Luật Thi hành án d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 633/2023/DS-PT Ngày: 31-5-2023 V/v Tranh chấp yêu cầu công hai xin lỗi và bồi thường thiệt hại do bị oan sai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu Hương
Ông Phạm Hồng Giảng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư T a án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 31 tháng 5 năm 2023, tại Tr s T a án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công hai v án th l số: 159/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 4 năm 2023, về việc: “Tranh chấp yêu cầu công hai xin lỗi và bồi thường thiệt hại do bị oan sai”.
Do Bản án d n sự sơ thẩm số: 94/2022/DS-ST ngày 22/12/2022 của T a án nhân dân Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh bị háng cáo, háng nghị.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 1838/2023/QĐPT-DS ngày 27/4/2023, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1938
Địa chỉ: 95T E, Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chinh P, sinh năm 1964; địa chỉ: 95T E, Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 09/4/2019).
-Bị đơn: Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 11 U, Phường I, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phan Tuyết O, sinh năm 1986 (Giấy ủy quyền ngày 15/5/2023).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân K, sinh năm 1929
Người đại diện hợp pháp của ông K: Bà Trần Thị T, sinh năm 1938 (là người giám hộ theo trích l c đăng giám hộ số: 480/TLGH-BS ngày 23/12/2019 của Ủy ban nhân dân Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh). Địa chỉ: 95T E, Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: + Bà Trần Thị T là nguyên đơn. + Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là bị đơn.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trư ng Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông P, bà O có mặt, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/3/2019, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 28/3/2019, ngày 07/8/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị T có ông Nguyễn Chinh P là đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ngày 07/6/1997, Cơ quan điều tra Công an Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định h i tố v án số: 251 về tội: “Hủy hoại tài sản của công dân” theo Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ngày 07/6/1997, Cơ quan điều tra Công an Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định h i tố bị can số: 375 đối với bà Trần Thị T về tội: “Hủy hoại tài sản của công d n” theo Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ngày 07/6/1997, Cơ quan điều tra Công an Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ra lệnh bắt, tạm giam bị can đối với bà T với sự phê chuẩn của Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/7/1997. Ngày 11/7/1997, bà T bị bắt tạm giam cho đến ngày 24/10/1997. Ngày 24/10/1997, Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định hủy bỏ việc tạm giam số: 222/KSĐT đối với bà T và ra Lệnh cấm đi hỏi nơi cư trú số: 223 ngày 24/10/1997 đối với bà Trần Thị T. Ngày 08/9/2003, Công an Quận Y ra Quyết định đình chỉ điều tra v án hình sự số: 06 và Quyết định đình chỉ điều tra bị can số: 14 đối với bà T. Lý do: Miễn trách nhiệm hình sự. Tất cả hoạt động tố t ng trên đều được Viện iểm sát nh n d n Quận Y phê chuẩn.
Sau đó, bà T có đơn hiếu nại Quyết định đình chỉ nêu trên. Liên ngành Trung ương đã ết luận Quyết định đình chỉ là hông đúng bản chất sự việc và cần phải thay thế bằng Quyết định đình chỉ hác.
Ngày 20/10/2005, Viện iểm sát nh n d n Quận Y đã ra Quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ bị can số: 18/KSĐT về việc hủy bỏ Quyết định đình chỉ điều tra bị can số: 14 ngày 08/9/2003 và Quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra v án số: 18/KSĐT về việc hủy bỏ Quyết định đình chỉ điều tra v án hình sự số: 06 ngày 08/9/2003 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận Y.
Ngày 21/10/2005, Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đình chỉ v án hình sự số: 19/KSĐT và Quyết định đình chỉ v án đối với bị can số: 19/KSĐT đối với bà Trần Thị T, lý do: “Không đủ chứng cứ chứng minh bà Trần Thị T phạm tội hủy hoại tài sản của công d n” nhưng hông lập biên bản bàn giao Quyết định đình chỉ điều tra bị can theo đúng quy định nên bà T không nhận được quyết định.
Ngày 07/4/2011, bà T mới chính thức được giao Quyết định đình chỉ điều tra bị can và Quyết định đình chỉ v án của Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 06/7/2016, Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định về việc bồi thường đối với bà Trần Thị T số: 01/QĐ-VKS, theo đó Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường cho bà T số tiền là 344.410.000 đồng, nhưng sau đó Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh đã hông thực hiện chi trả.
Ngày 19/4/2018, Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số: 68/QĐ -VKS hủy bỏ Quyết định bồi thường số: 01/QĐ-VKS ngày 06/7/2016 của Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 22/10/2018, Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có thư mời số 364/TM-VKS mời bà T đến để trao đổi về việc giải quyết bồi thường oan sai cho bà T.
Ngày 24/10/2018, bà T đến Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu phải xác minh lại thiệt hại thực tế của gia đình.
Ngày 06/12/2018, Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định bồi thường số: 198/QĐ-VKS về việc bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị T số tiền là 183.865.000 đồng nhưng bà T không đồng và h i iện tại T a án nh n d n Quận Q.
Do đó, nay bà T h i iện Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị T a án căn cứ vào các quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và Nghị định số: 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 để giải quyết v án, c thể bà T yêu cầu bồi thường như sau: 1. Bồi thường thiệt hại 08 tấm tôn thiếc do bị tịch thu trái pháp luật theo ết quả thẩm định giá là 736.000 đồng. 2. Thiệt hại phát sinh do việc hông sử d ng hai thác tài sản được xác định là thu nhập thực tế bị mất là tiền thuê nhà căn nhà số 53 đường số 8, Phường S, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh tính từ ngày 11/7/1997 đến ngày 21/10/2005 với giá thuê theo ết quả thẩm định giá là 24.345.000 đồng/tháng, c thể: 111 tháng x 24.345.000 đồng/tháng = 2.702.295.000 đồng. Về chi phí thẩm định giá số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), nguyên đơn bà T đã tạm ứng toàn bộ đề nghị T a án giải quyết theo quy định pháp luật. 3. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút từ hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc, gia công tại 95T E, Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh được tính từ ngày 07/6/1997 đến ngày 21/10/2005 theo mức lương tối thiểu vùng I tại thời điểm xét xử (Nghị định số: 90/2019/NĐ-CP của Chính phủ) và do bà T là lao động có tay nghề nên được nh n thêm 7%. Như vậy, thu nhập một tháng của bà T là: [4.420.000 đồng + (4.420.000 đồng x 7%)] x 99 tháng = 468.210.600 đồng. 4. Chi phí cấp dưỡng nuôi chồng là ông Lê Xuân K (do ông Lê Xuân K bị bại liệt từ năm 1995) theo quy định tại điểm b hoản 4 Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017 là theo mức lương tối thiểu vùng I tại thời điểm xét xử cho quãng thời gian từ ngày 11/7/1997 đến ngày 21/10/2005, c thể: 4.420.000 đồng x 99 tháng = 437.508.000 đồng. 5. Chi phí thuê người bào chữa, chi phí đi lại, in ấn tài liệu:
- Chi phí in ấn tài liệu, gửi đơn thư số tiền là 29.207.217 đồng.
- Chi phí đi lại, chi phí thuê người bào chữa tính từ ngày 11/7/1997 đến ngày T a án xét xử là: (1.490.000 đồng/tháng x 6 tháng) x 24 năm = 214.560.000 đồng. 6. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần: + Thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/1997 đến ngày 10/7/1997 là 34 ngày (1 ngày bị h i tố là 2 ngày lương cơ s ), c thể: 34 ngày x 2 ngày lương x (1.490.000 đồng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 4.605.436 đồng. + Thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/1997 đến ngày 24/10/1997 là 106 ngày (01 ngày giam là 05 ngày lương cơ s ): 106 ngày x 5 ngày x (1.490.000 đồng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 35.895.310 đồng.
+ Thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam đến ngày bị truy nã, bắt giam từ ngày 25/10/1997 đến ngày 28/11/1998 là 400 ngày (01 ngày là 02 ngày lương cơ s ):
400 ngày x 2 ngày x (1.490.000 đồng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 54.181.600 đồng.
+ Thời gian bị truy nã bắt giam từ ngày 28/11/1998 đến ngày 06/8/2003 là 56 tháng 09 ngày = 1.689 ngày (01 ngày giam là 05 ngày lương cơ s ):
1.689 ngày x 5 ngày x (1.490.000 đồng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 571.954.515 đồng.
+ Số ngày hông bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2003 đến ngày 21/10/2005, Viện iểm sát ra Quyết định đình chỉ là 26 tháng 14 ngày = 794 ngày (01 ngày là 02 ngày lương cơ s ):
794 ngày x 2 ngày x (1.490.000 đồng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 107.550.476 đồng.
+ Thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam cho đến hi nhận được quyết định đình chỉ bị can từ ngày 22/10/2005 đến ngày 07/4/2011 là 1.988 ngày (01 ngày là 02 ngày lương cơ s ):
1.988 ngày x 2 ngày x (1.490.000 đồng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 269.282.552 đồng.
Như vậy, tổng cộng số tiền bà T yêu cầu Viện iểm sát nh n d n Quận Y bồi thường là 4.895.986.706 đồng (bốn tỷ tám trăm chín mươi lăm triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn bảy trăm lẻ sáu đồng). Thực hiện ngay hi bản án có hiệu lực pháp luật.
7. Khôi ph c danh dự cho người bị thiệt hại, c thể phải công hai xin lỗi và đăng báo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên t a sơ thẩm, nguyên đơn bà T rút lại các yêu cầu h i iện sau:
- Về chi phí hám chữa bệnh từ ngày 24/10/1997 đến ngày 31/10/1997 tại Bệnh viện G số tiền là 1.350.000 đồng.
- Về chi phí thuê người chăm sóc bà T từ ngày 11/7/1997 đến ngày 21/10/2005 số tiền là 437.508.000 đồng.
- Yêu cầu hủy bỏ nội dung nhận định sai về nguồn gốc đất đối với nền nhà 51 đường số 8, Phường S, Quận Y theo Quyết định đình chỉ v án đối với bị can số 19/KSĐT ngày 21/10/2005 của Viện iểm sát nh n d n Quận Y.
Tại các bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Viện kiểm sát nhân dân Quận Y có bà Phan Tuyết O là đại diện theo ủy quyền trình bày: Quá trình thương lượng bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn và bị đơn như sau: Ngày 06/7/2016, bà T và Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất tổng số tiền bồi thường cho bà T là 344.410.000 đồng theo biên bản thương lượng thành số: 01/TLBT ngày 06/7/2016. Sau đó, Viện iểm sát nhân dân tối cao có công văn số: 1135/VKSTC-V7 ngày 04/4/2017 với nội dung căn cứ hoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP - BQP - BTC- BNN & PTNN ngày 02/11/2012 (sau đ y gọi tắt là Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT ngày 02/11/2012) thì Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh tính chưa đúng với quy định pháp luật. Ngày 19/4/2018, Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số: 68/QĐ-VKS hủy bỏ Quyết định bồi thường số: 01/QĐ-VKS ngày 06/7/2016 của Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 22/10/2018, Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có thư mời số: 364/TM-VKS mời bà T đến để trao đổi. Ngày 24/10/2018, bà T đến Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu phải xác minh lại thiệt hại thực tế của gia đình. Ngày 06/12/2018, Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định bồi thường số: 198/QĐ-VKS về việc bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị T số tiền là 183.865.000 đồng nhưng bà T hông đồng và h i iện Viện iểm sát nh n d n Quận Y tại T a án. Đối với các yêu cầu h i iện của nguyên đơn, Viện iểm sát nh n d n Quận Y có iến như sau: 1. Viện iểm sát nh n d n Quận Y hông đồng bồi thường về việc bà T yêu cầu bồi thường thiệt hại 08 tấm tôn thiếc do bị tịch thu trái pháp luật theo ết quả thẩm định giá là 736.000 đồng vì theo Biên bản hỏi cung bà T ngày 20/8/1997 thì bà T hai rằng: 08 tấm tôn bằng thiếc là của căn nhà 51 đường số 8, Phường S, Quận Y, bà T êu thợ hồ gỡ ra. Mặt hác, bà T cũng hông cung cấp được chứng từ chứng minh 08 tấm tôn trên là thuộc s hữu của bà T. 2. Viện iểm sát nh n d n Quận Y không đồng yêu cầu bồi thường của bà T về thiệt hại phát sinh do việc hông sử d ng hai thác tài sản được xác định là thu nhập thực tế bị mất là tiền thuê nhà số 53 đường số 8 (đường K, Phường S, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh) số tiền là 2.702.295.000 đồng. Vì theo luật định thì thiệt hại chỉ được tính trong thời gian bà T bị tạm giữ, tạm giam là 106 ngày nếu có cơ s chứng minh. Trong trường hợp này bà T hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ nên hông đồng .
- Viện iểm sát nh n d n Quận Y không có ý kiến gì về ết quả thẩm định giá. Về chi phí thẩm định giá bà T đã tạm nộp số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), đề nghị T a án giải quyết theo quy định pháp luật.
3. Viện iểm sát nh n d n Quận Y không đồng yêu cầu bồi thường của bà T về thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút từ hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc, gia công tại 95T E, Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 468.210.600 đồng.
Vì thiệt hại chỉ được tính trong thời hạn bà T bị tạm giữ, tạm giam. Sau hi bà T được tại ngoại từ ngày 25/10/1997 thì do bà T bỏ trốn hông lại để duy trì hoạt động inh doanh nên việc inh doanh sa sút, hông duy trì được là do lỗi của bà T.
Viện iểm sát nh n d n Quận Y đồng bồi thường cho bà T về thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất do bị tạm giữ, tạm giam 106 ngày số tiền là: 106 ngày x 1 ngày lương x 67.727 đồng/ngày = 7.179.062 đồng.
4. Viện iểm sát nh n d n Quận Y không đồng yêu cầu bồi thường của bà T về chi phí cấp dưỡng nuôi chồng là ông Lê Xuân K số tiền là 437.508.000 đồng vì hông có quy định về hoản bồi thường này và bà T cũng hông có chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu này nên hông có cơ s để chấp nhận.
5. Viện iểm sát nh n d n Quận Y không đồng yêu cầu bồi thường của bà T về chi phí in ấn tài liệu, gửi đơn thư số tiền là 29.207.217 đồng và chi phí đi lại, chi phí thuê người bào chữa số tiền là 214.560.000 đồng vì yêu cầu của bà T hông có căn cứ.
6. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần, Viện iểm sát nh n d n Quận Y đồng bồi thường như sau:
- Thời gian bà T bị h i tố từ ngày 07/6/1997 đến ngày 10/7/1997 là 34 ngày (1 ngày bị h i tố = 1 ngày lương tối thiểu), c thể:
34 ngày x 1 ngày lương x (1.490.000 đồng: 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 2.302.718 đồng.
- Số ngày thực tế bà T bị tạm giữ tạm giam từ ngày 11/7/1997 đến 24/10/1997 là 106 ngày (1 ngày giam = 3 ngày lương tối thiểu), c thể:
106 ngày x 3 ngày lương x (1.490.000 đồng: 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 21.537.186 đồng.
Số ngày bà T hông bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/1997 đến ngày 21/10/2005 là ngày Viện iểm sát nh n d n Quận Y ra quyết định đình chỉ là 2.919 ngày (1 ngày tại ngoại = 1 ngày lương tối thiểu), c thể:
2.919 ngày x 1 ngày lương x (1.490.000 đồng: 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 197.695.113 đồng. Tổng số tiền là: 221.535.017 đồng. Như vậy, tổng cộng số tiền Viện iểm sát nh n d n Quận Y đồng bồi thường cho bà T là: 7.179.062 đồng + 221.535.017 đồng = 228.714.079 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu bảy trăm mười bốn ngàn hông trăm bảy mươi chín đồng). 7. Về việc bà T yêu cầu hôi ph c danh dự, c thể phải công hai xin lỗi và đăng báo theo quy định của pháp luật thì căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT ngày 02/11/2012, Viện iểm sát nh n d n Quận Y đồng . Đối với việc bà T rút một phần yêu cầu h i iện, bị đơn Viện iểm sát nh n d n Quận Y hông có iến. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân K có bà Trần Thị T là người giám hộ trình bày: Bà thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại Bản án d n sự sơ thẩm số: 94/2022/DS-ST ngày 22/12/2022 của T a án nhân dân Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Trần Thị T. Buộc Viện iểm sát nh n d n Quận Y phải bồi thường cho bà Trần Thị T thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút số tiền 204.874.175 đồng (hai trăm lẻ bốn triệu tám trăm bảy mươi bốn ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng) và thiệt hại do tổn thất về tinh thần số tiền là 221.535.017 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn hông trăm mười bảy đồng). Tổng cộng là 426.409.192 đồng (bốn trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm lẻ chín ngàn một trăm chín mươi hai đồng). Thực hiện ngay sau hi bản án có hiệu lực pháp luật. Buộc Viện iểm sát nh n d n Quận Y phải tổ chức xin lỗi, cải chính công hai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bà Trần Thị T và đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến hi thi hành án xong, Viện iểm sát nh n d n Quận Y c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật D n sự năm 2015. 2. Không chấp nhận các yêu cầu h i iện c n lại của bà Trần Thị T. 3. Bà Trần Thị T phải chịu chi phí thẩm định giá số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Bà T đã nộp đủ theo phiếu thu số 0002849 ngày 16/01/2020 của Công ty Cổ phần Định giá và Đầu tư Kinh doanh bất động sản V.
4. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của bà Trần Thị T về việc yêu cầu Viện iểm sát nh n d n Quận Y bồi thường chi phí hám chữa bệnh số tiền là 1.350.000 đồng, chi phí thuê người chăm sóc bà T số tiền là 437.508.000 đồng và yêu cầu hủy bỏ nội dung nhận định sai về nguồn gốc đất đối với nền nhà 51 đường số 8, Phường S, Quận Y theo Quyết định đình chỉ v án đối với bị can số: 19 ngày 21/10/2005 của Viện iểm sát nh n d n Quận Y.
5. Về án phí d n sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị T hông phải chịu án phí.
Viện iểm sát nh n d n Quận Y phải chịu án phí là 21.056.368 đồng (hai mươi mốt triệu hông trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng).
Ngoài ra, bản án d n sự sơ thẩm c n tuyên quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 27/12/2022, nguyên đơn là bà Trần Thị T háng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án d n sự sơ thẩm.
Ngày 26/12/2022, bị đơn là Viện iểm sát nh n d n Quận Y háng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm đối với hoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút từ hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc gia công của bà T tại 95T E, Phường R, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 18/01/2023, Viện trư ng Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định háng nghị phúc thẩm số: 464/QĐ-VKS –DS kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm đối với số tiền bồi thường cho nguyên đơn do hoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút từ hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc gia công của bà T tại 95T E, Phường R, Quận Q và về án phí d n sự sơ thẩm.
Tại phiên t a phúc thẩm:
Các đương sự hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.
Ông Nguyễn Chinh P đại diện nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu h i iện, yêu cầu háng cáo, lý do kháng cáo: Cấp sơ thẩm áp d ng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 để giải quyết v án là hông đúng quy định, ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, c thể:
Ngày 21/10/2005, Viện iểm sát nh n d n Quận Y ban hành Quyết định đình chỉ v án hình sự số: 19/KSĐT và Quyết định đình chỉ v án đối với bị can số: 19/KSĐT đối với bà Trần Thị T, bà T đã rất nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan nhà nước và Viện iểm sát nh n d n Quận Y để yêu cầu bồi thường do oan sai nhưng hông được giải quyết. Đến ngày 17/7/2015, Viện iểm sát nh n d n Quận Y mới th l đơn yêu cầu của bà T theo thông báo số: 210/TB-VKS. Viện iểm sát nh n d n Quận Y là cơ quan trực tiếp quản l người thi hành công v th l có quyết định giải quyết bồi thường số: 01/QĐ - VKS ngày 06/7/2016 số tiền 344.410.000 đồng nhưng hông chi trả. Viện iểm sát nh n d n Quận Y đã từ chối trách nhiệm th l giải quyết bồi thường. Ngày 19/4/2018, Viện Kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số: 68/QĐ-VKS về việc hủy bỏ Quyết định giải quyết bồi thường số: 01/QĐ - VKS của Viện iểm sát nh n d n Quận Y. Hai bên đã có biên bản thương lượng hông thành số: 01 ngày 30/10/2018. Căn cứ hoản 8 Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có hiệu lực ngày 01/7/2018: “Trường hợp thương lượng hông thành thì người yêu cầu bồi thường có quyền h i iện yêu cầu T a án giải quyết”. Bà T h i iện tại Tòa án nhân d n Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy xác nhận đơn số: 2139/GXN-TA ngày 12/11/2018; thông báo chuyển đơn h i iện số: 51/TB-TA ngày 01/02/2019. Như vậy, T a án th l là cơ quan giải quyết bồi thường tương tự như quy định tại hoản 1 Điều 20 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quyền h i iện tại Tòa án trong trường hợp hông tán thành với quyết định giải quyết bồi thường. Như vậy, trường hợp của bà T là đã có yêu cầu nhưng chưa được th l giải quyết theo hoản 2 Điều 78 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì v việc của bà T phải áp d ng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và Nghị định số: 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ để giải quyết v án mới đúng pháp luật. Do vậy, ông yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của T a án nh n d n Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu háng cáo của Viện iểm sát nh n d n Quận Y và kháng nghị của Viện trư ng Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh, ông hông đồng vì giai đoạn tại ngoại bà T không thể inh doanh, buôn bán nên thu nhập bị mất là đúng chứ hông thể chỉ tính những ngày bị tạm giam, tạm giữ như bị đơn trình bày. Bà Phan Tuyết O là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Bị đơn háng cáo một phần bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm chấp nhận hoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc gia công của bà T tại 95T E, Phường R, Quận Q với tổng số ngày được chấp nhận là 3.025 ngày x 67.727 đồng/ngày = 204.868.125 đồng là chưa chính xác. Theo quy định tại Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và hoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT ngày 01/11/2012 quy định thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút: “người bị thiệt hại ể cả trường hợp đã chết chỉ được bồi thường hoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù”.
Theo hồ sơ v án cũng như lời hai nguyên đơn thì số ngày thực tế bị tạm giữ, tạm giam là 106 ngày với số tiền nguyên đơn được bồi thường theo Nghị định số: 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 là 1.490.000 đồng/tháng : 22 ngày = 67.727 đồng/ngày. Vậy tổng mức bồi thường thu nhập thực tế bị mất: 67.727 đồng x 106 ngày = 7.179.062 đồng.
Đối với yêu cầu háng cáo của nguyên đơn, phía bị đơn hông đồng , l do trước đó bà T nhiều lần gửi đơn yêu cầu bồi thường nhưng hông đúng biểu mẫu. Đến ngày 13/7/2015, bà T gửi đơn sửa đổi, bổ sung theo đúng mẫu quy định thì ngày 17/7/2015, Viện iểm sát nh n d n Quận Y th l đơn của bà T bằng thông báo số: 210/TB-VKS nên theo quy định tại hoản 1 Điều 78 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì phải áp d ng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 để giải quyết v án của bà T theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với háng nghị của Viện trư ng Viện iểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn hoàn toàn đồng .
Đại diện Viện Kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị:
Về tố t ng: Từ hi th l v án cho đến hi có quyết định đưa v án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và tại phiên t a, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015. Tại phiên t a các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Ngày 18/01/2023, Viện trư ng Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định háng nghị phúc thẩm số: 464/QĐ-VKS –DS háng nghị một phần bản án d n sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án án sơ thẩm. Tại phiên t a phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Quyết định háng nghị, c thể:
Về việc cấp sơ thẩm chấp nhận số tiền bồi thường cho nguyên đơn đối với thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút số tiền 204.874.175 đồng. Theo quy định tại hoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT ngày 02/11/2012 hướng dẫn: “Người bị thiệt hại chỉ được bồi thường hoản thu nhập thực tế bị mất trong giai đoạn họ bị tạm giữ, tạm giam”. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bồi thường hoản thu nhập thực tế bị mất cả trong thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam (giai đoạn áp d ng lệnh cấm đi hỏi nơi cư trú và truy nã) là hông đúng. Mặt hác, cấp sơ thẩm nhận định trong thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam bà T có thể làm những công việc phổ thông hác để có thu nhập, chi tiêu cho cuộc sống nhưng thu nhập đó hông ổn định như công việc chính của bà T vì bà T là chủ hộ inh doanh may mặc, nghĩa là thu nhập chỉ bị giảm sút nhưng lại tuyên buộc bị đơn bồi thường toàn bộ thu nhập bị mất là m u thuẫn. Do vậy, đề nghị cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận bồi thường cho bà T theo số ngày thực tế bị tạm giữ, tạm giam là 106 ngày với số tiền là: 67.727 đồng x 106 ngày = 7.179.062 đồng. Về án phí d n sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 76 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định: Cơ quan giải quyết bồi thường hông thu các khoản án phí, lệ phí và các loại phí hác đối với nội dung yêu cầu bồi thường. Như vậy, Viện iểm sát nh n d n Quận Y hông phải chịu án phí. T a án cấp sơ thẩm tuyên bị đơn phải chịu án phí 21.056.368 đồng là hông đúng. Về yêu cầu háng cáo của nguyên đơn yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm l do áp d ng pháp luật nội dung hông đúng. Xét, Viện iểm sát nh n d n Quận Y th l đơn của bà T bằng thông báo số: 210/TB-VKS ngày 17/7/2015. T a án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại hoản 1 Điều 78 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 để áp d ng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 giải quyết v án là đúng pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đơn. Chấp nhận háng cáo của bị đơn và háng nghị của Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015 sửa Bản án d n sự sơ thẩm số: 94/2022/DS-ST ngày 22/12/2022 của T a án nh n d n Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào ết quả tranh t ng, tranh luận tại phiên t a, iến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về hình thức và thời hạn háng cáo, háng nghị: Ngày 27/12/2022, nguyên đơn là bà T có đơn háng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm. Ngày 26/12/2022, bị đơn là Viện iểm sát nh n d n Quận Y có đơn háng cáo một phần bản án sơ thẩm. Ngày 18/01/2023, Viện kiểm sát nhân d n Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định háng nghị phúc thẩm số: 464/QĐ-VKS –DS háng nghị một phần bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại hoản 1 Điều 273, hoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố t ng d n sự 2015 thì đơn háng cáo của nguyên đơn, bị đơn, quyết định háng nghị của Viện iểm sát c n trong hạn luật định nên hợp lệ.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Trần Thị T là người đại diện hợp pháp của ông Lê Xuân K là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có đơn đề nghị T a án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào hoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015, T a án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
Về nội dung:
[ 3.1] Nguyên đơn là bà T háng cáo bản án d n sự sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm l do cấp sơ thẩm áp d ng pháp luật nội dung hông đúng.
Xét thấy, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, lời hai của các đương sự nhận thấy: Viện iểm sát nh n d n Quận Y ban hành Quyết định đình chỉ v án hình sự và Quyết định đình chỉ v án đối với bị can số: 19/KSĐT ngày 21/10/2005 đối với bà Trần Thị T. Ngày 30/8/2012 bà T gửi đơn đến Viện iểm sát nh n d n Quận Y và gửi đơn đến các cơ quan nhà nước để yêu cầu giải quyết bồi thường. Đến ngày 13/7/2015, bà T tiếp t c gửi đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu bồi thường đến Viện iểm sát nh n d n Quận Y. Ngày 17/7/2015, Viện iểm sát nh n d n Quận Y ban hành Thông báo số: 210/TB-VKS về việc th l đơn của bà T. Căn cứ hoản 1 Điều 78 về quy định chuyển tiếp của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017: “1. Các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được cơ quan giải quyết bồi thường th l trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp t c áp d ng quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 để giải quyết”.
Như vậy, trong trường hợp này, bà T đã được cơ quan giải quyết bồi thường là Viện iểm sát nh n d n Quận Y th l trước thời điểm Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có hiệu lực. Ông P đại diện bà T cho rằng Viện iểm sát nh n d n Quận Y đã th l , thương lượng bồi thường sau đó hủy bỏ quyết định bồi thường nên phải căn cứ vào Cơ quan giải quyết bồi thường là T a án. Năm 2018, bà T gửi đơn đến T a án và Tòa án th l v án năm 2019 thì phải áp d ng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 là hông có căn cứ.
Căn cứ vào quy định nêu trên, cấp sơ thẩm áp d ng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 cũng như các quy định tại Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT ngày 02/11/2012 để giải quyết v án là phù hợp quy định pháp luật.
Do đó, nguyên đơn háng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm cho rằng cấp sơ thẩm áp d ng pháp luật nội dung hông đúng là hông có cơ s chấp nhận.
Bị đơn là Viện iểm sát nh n d n Quận Y háng cáo một phần bản án sơ thẩm cho rằng cấp sơ thẩm chấp nhận hoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút từ hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc gia công của bà T tại 95T E, Phường R, Quận Q với tổng số ngày được chấp nhận là 3.025 ngày x 67.727 đồng/ngày = 204.868.125 đồng là chưa chính xác. Xét, căn cứ vào Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 cũng như tại hoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT ngày 02/11/2012 quy định: “Người bị thiệt hại chỉ được bồi thường hoản thu nhập thực tế bị mất trong giai đoạn họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng như lời hai của các đương sự tại phiên tòa thể hiện bà T bị tạm giam, tạm giữ là 106 ngày. Cấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường hoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút cả trong thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam (giai đoạn áp d ng lệnh cấm đi hỏi nơi cư trú và truy nã) là hông đúng. Mặt hác, cấp sơ thẩm nhận định trong thời gian hông bị tạm giữ, tạm giam bà T có thể làm những công việc phổ thông hác để có thu nhập, chi tiêu cho cuộc sống nhưng thu nhập đó hông ổn định như công việc chính của bà T vì bà T là chủ hộ inh doanh may mặc, nghĩa là thu nhập nếu có thì chỉ bị giảm sút nhưng lại tuyên buộc bị đơn bồi thường toàn bộ thu nhập bị mất là m u thuẫn, không có căn cứ. Do vậy, cần điều chỉnh lại hoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của bà T như sau: Căn cứ Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính phủ quy định mức lương cơ s đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang là 1.490.000 đồng/tháng. Như vậy số tiền bà T được bồi thường là: 106 ngày x 1 ngày lương x (1.490.000 đồng: 22 ngày = 67.727 đồng/ngày) = 7.179.062 đồng. Do vậy, háng cáo của bị đơn là có cơ s chấp nhận. [3.3] Về háng nghị của Viện trư ng Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh: [3.3.1] Đối với háng nghị về hoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của bà T từ hoạt động inh doanh của cửa hàng may mặc gia công của bà T tại 95T E, Phường R, Quận Q. Như đã ph n tích và nhận định phần háng cáo của bị đơn nên háng nghị phần này của Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có cơ s chấp nhận. [3.3.2] Đối với háng nghị về án phí d n sự sơ thẩm của Viện iểm sát nhân d n Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, theo quy định tại Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009: “Không áp d ng án phí, lệ phí, các loại phí hác và thuế trong quá trình giải quyết bồi thường.
1. Khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của Nhà nước theo quy định của Luật này, người bị thiệt hại hông phải nộp lệ phí, án phí và các loại phí hác.
2. Không thu thuế thu nhập cá nh n, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoản tiền bồi thường mà người bị thiệt hại được nhận”.
Theo quy định tại Điều 76 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017: “Án phí, lệ phí, các loại phí hác và thuế trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường
1. Cơ quan giải quyết bồi thường hông thu các hoản án phí, lệ phí và các loại phí hác đối với nội dung yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này.
2. Người bị thiệt hại hông phải nộp thuế thu nhập cá nh n, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số tiền bồi thường được nhận”.
Xét thấy, v án này, Tòa án nhân dân Quận Q th l ngày 13/3/2019, theo quy định tại điểm f hoản 1 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án quy định: “Các trường hợp khác hông phải nộp tạm ứng án phí, án phí mà pháp luật có quy định”.
Do vậy, đối chiếu với các quy định nêu trên thì Viện iểm sát nh n d n Quận Y hông phải nộp án phí d n sự sơ thẩm nên háng nghị của Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có cơ s chấp nhận.
Như vậy, Viện iểm sát nh n d n Quận Y phải bồi thường cho bà Trần Thị T thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút số tiền 7.179.062 đồng (bảy triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hông trăm sáu mươi hai đồng) và thiệt hại do tổn thất về tinh thần số tiền là 221.535.017 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn hông trăm mười bảy đồng). Tổng cộng là 228.714.079 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu bảy trăm mười bốn ngàn hông trăm bảy mươi chín đồng).
Những nội dung hác của Bản án sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật.
Từ những ph n tích và nhận định trên, xét thấy háng cáo của nguyên đơn hông có cơ s chấp nhận, háng cáo của bị đơn và háng nghị của Viện iểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh có căn cứ.
Hội đồng xét xử căn cứ vào hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015, sửa một phần bản án d n sự sơ thẩm của T a án nh n d n Quận Q theo đề nghị của Viện Kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ s .
Về án phí: [4.1] Về án phí d n sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị T hông phải nộp án phí d n sự sơ thẩm.
- Bị đơn Viện iểm sát nh n d n Quận Y hông phải nộp án phí d n sự sơ thẩm. [4.2] Về án phí d n sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị T hông phải nộp án phí d n sự phúc thẩm.
- Bị đơn Viện iểm sát nh n d n Quận Y hông phải nộp án phí d n sự phúc thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí d n sự phúc thẩm cho bị đơn. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào hoản 2 Điều 148, hoản 2 Điều 296, hoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 26, 31, 45, 46, 47, 51 và 64 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; Căn cứ vào Điều 76, 78 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Căn cứ các Điều 7, 10, 19 của Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC- BNN & PTNN ngày 02/11/2012; Căn cứ vào Điều 357, 468 của Bộ luật D n sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án d n sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; Căn cứ vào điểm f hoản 1 Điều 11 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án. Tuyên xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị T. 2. Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Chấp nhận háng nghị của Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Sửa Bản án d n sự sơ thẩm số: 94/2022/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2022 của T a án nh n d n Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. 5. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn:
5.1. Buộc Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường cho bà Trần Thị T thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút số tiền 7.179.062 đồng (bảy triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hông trăm sáu mươi hai đồng) và thiệt hại do tổn thất về tinh thần số tiền là 221.535.017 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn hông trăm mười bảy đồng). Tổng cộng là 228.714.079 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu bảy trăm mười bốn ngàn hông trăm bảy mươi chín đồng).
Thực hiện ngay sau hi bản án có hiệu lực pháp luật.
5.2. Buộc Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh phải tổ chức xin lỗi, cải chính công hai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bà Trần Thị T và đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp.
6. Không chấp nhận các yêu cầu h i iện c n lại của bà Trần Thị T.
7. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Trần Thị T về việc yêu cầu Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường chi phí hám chữa bệnh số tiền là 1.350.000 đồng, chi phí thuê người chăm sóc bà T số tiền là 437.508.000 đồng và yêu cầu hủy bỏ nội dung nhận định sai về nguồn gốc đất đối với nền nhà 51 đường số 8, Phường S, Quận Y theo Quyết định đình chỉ v án đối với bị can số: 19/KSĐT ngày 21/10/2005 của Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Về chi phí tố t ng: Bà Trần Thị T phải chịu chi phí thẩm định giá số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Bà T đã nộp đủ theo phiếu thu số 0002849 ngày 16/01/2020 của Công ty Cổ phần Định giá và Đầu tư Kinh doanh bất động sản V.
9. Về án phí:
9.1. Về án phí d n sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị T hông phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Viện iểm sát nh n d n Quận Y, hông phải nộp án phí d n sự sơ thẩm.
9.2. Về án phí d n sự phúc thẩm:
- Bà Trần Thị T hông phải nộp án phí d n sự phúc thẩm.
- Viện iểm sát nh n d n Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh không phải nộp án phí d n sự phúc thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) cho Viện iểm sát nh n d n Quận Y theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí T a án số: AA/2021/0008020 ngày 30/12/2022 của Chi c c Thi hành án d n sự Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định hác. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự, thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận Q; - Chi c c THADS Quận Q; - C c THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương |