- Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 21-4-2025 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Đăng
Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2025/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Nam Định, chỗ ở: Khu phố N, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; sống chung như vợ chồng với chị Đinh Thị U và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ 27-10-2024, chuyển tạm giam từ ngày 05-11-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Phú Mỹ-Trại tạm giam công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
Hoàng Ngọc T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2001 tại thành phố Hải Phòng; nơi đăng ký HKTT: Số X, khu phố P, Vinhomes Imperia, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, chỗ ở: Khu phố V, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc T và bà Nguyễn Thị T; Tiền sự: Không; Tiền án: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ 27-10-2024, chuyển tạm giam từ ngày 05-11-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Phú Mỹ-Trại tạm giam công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
Người làm chứng:
1. Mai Trọng A, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
2. Hoàng Thị Nhật L, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ X, khu phố T, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
3.Ngô Thị Mỹ G, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu phố N, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, trA luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 26/10/2024, Đ, Mai Trọng A và Ngô Thị Mỹ G cũng là bạn của T, đến nhà T nhậu. Cả nhóm ngồi nhậu được một lúc thì G mệt nên đi vào phòng T ngủ, còn T, Đ, Trọng A tiếp tục nhậu. Lúc này, Đ nảy sinh ý định tổ chức sử dụng ma túy nên rủ T và Trọng A góp tiền mua ma túy về sử dụng nhưng Trọng A không có tiền nên không góp, Đ liền nói T tìm chỗ mua ma túy và gọi một nhân viên nữ để phục vụ việc tổ chức ma túy, T đồng ý nên đã liên hệ với Hoàng Thị Nhật L đến nhà T phục vụ tổ chức ma túy với tiền công 2.000.000 đồng, L đồng ý rồi tự bắt xe đi đến nhà T. Sau đó, Đ đưa cho T số tiền 2.500.000 đồng để góp mua ma tuý. Do đã có sẵn ma túy mua của My trước đó nên T đã đi vào phòng lấy ma túy để cả nhóm cùng sử dụng. Tại phòng ngủ, T, Đ cùng nhau chuẩn bị các dụng cụ chế biến ma túy rồi cùng Trọng A, L sử dụng ma túy và nghe nhạc. Đến khoảng 0 giờ 15 phút ngày 27/10/2024, khi T, Đ đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an thị xã Phú Mỹ phối hợp với Công an phường Phú Mỹ phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 đĩa sứ tròn màu trắng bên trên có dính chất bột mịn màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xám, 01 ống hút làm bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá, 01 gói nylon màu trắng có chứa 01 viên nén màu xA không rõ hình dạng, 01 mẫu viên nén màu xA không rõ hình dạng, 01 gói nylon màu trắng có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, 01 bật lửa màu đỏ, 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng, 01 đèn nháy chiếu sáng, 01 loa nghe nhạc, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen và số tiền 3.500.000 đồng.
- Tại Bản kết luận giám định số: 535/KL ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận như sau:
- Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 01) có hình dấu của Công an phường Phú Mỹ, CATX- Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng chữ ký ghi họ tên của: Trung tá Nguyễn Thị Bích Thuỷ, Nguyễn Minh T, Hoàng Ngọc T, Nguyễn Văn Đ, Mai Trọng A, Hoàng Thị Nhật L, Ngô Thị Mỹ G, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Thành Phước bên trong có 01 (một) đĩa sứ hình tròn – màu trắng chứa chất bột màu trắng (ký hiệu Mẫu A1) khối lượng 0,1377 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 02), có hình dấu và chữ ký như phong bì số 01, bên trong có:
+ 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu – trong suốt (ký hiệu Mẫu A2), khối lượng 0,9915 gam, là ma túy, loại Ketamine;
+ 01 (một) viên nén màu xA, không rõ hình dạng và 01 (một) mẩu viên nén màu xA, không rõ hình dạng (ký hiệu Mẫu A3), khối lượng 0,7601 gam, là ma túy, loại MDMA.
Bản Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 05-3-2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố Nguyễn Văn Đ, Hoàng Ngọc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:
Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi, đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị:
Về tội dA: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hoàng Ngọc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án 07 đến 08 năm tù; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T mức án 07 đến 08 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đề số 535/01, 535/02 ngày 01/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định, trên phong bì có chữ ký, họ và tên của những người sau: Thượng tá Nguyễn Dũng, Hoàng Thị Lan Mai, Bạch ThA Nông; 01 thẻ nhựa màu xám, 01 bật lửa màu đỏ; tịch thu nộp công quỹ số tiền 2.500.000 đồng, 01 tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng; 01 đèn nháy chiếu sáng và 01 loa nghe nhạc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím; trả lại cho bị cáo T số tiền 1.000.000 đồng, trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Lời khai của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thừa nhận bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng. Bị cáo không có ý bào chữa mà chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, trA luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội dA và điều luật áp dụng
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các đương sự khác, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định được:
Vào tối ngày 26/10/2024 tại khu phố Vạn Hạnh, phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Văn Đ và Hoàng Ngọc T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với Mai Trọng A, Hoàng Thị Nhật L. Đến khoảng 0 giờ 15 phút ngày 27/10/2024, thì bị Công an thị xã phú Mỹ phối hợp với Công an phường Phú Mỹ bắt quả tang, thu giữ 1,1292 gam ma túy loại Ketamine và 0,7601 gam ma túy loại MDMA.
Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hoàng Ngọc T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên”.
Như vậy, Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 05-3-2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo Đ trước đây đã tham gia nghĩa vụ quân sự và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần thời hạn.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội
Bị cáo là công dân đã trưởng thành, hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người và quy định của pháp luật nghiêm cấm hành vi tổ chức sử dụng trái phép đối với chất ma tuý. Tuy nhiên để phục vụ nhu cầu bản thân và những người khác, bị cáo đã bất chấp đến các quy định của pháp luật, cố ý tổ chức cho các đối tượng Mai Trọng A, Hoàng Thị Nhật L sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội, tương xứng với đặc điểm nhân thân, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm nên đồng phạm với nhau. Xét tính chất hành vi của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên là đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Ngọc T có vai trò chính trong vụ án, là người chuẩn bị địa điểm, ma túy, công cụ phương tiện và thuê người đến phục vụ khi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo. Bị cáo Đ cáo vai trò là người khởi xướng và góp tiền để mua ma túy nên cũng phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo.
Các bị cáo là người nghiện, có thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 phong bì niêm phong đề số 535/01, 535/02 ngày 01/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gửi trả sau giám định (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), 01 thẻ nhựa màu xám, 01 bật lửa màu đỏ là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng; 01 đèn nháy chiếu sáng và 01 loa nghe nhạc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội có giá trị sử dụng nên tịch thu nộp công quỹ. Đối với số tiền 3.500.000 đồng trong đó có 2.500.000 đồng là tiền bị cáo Đ góp để mua ma túy sử dụng nên tịch thu nộp công quỹ, 1.000.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo T. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vấn đề khác có liên quan: Ma túy thu giữ tại hiện trường gồm 1,1292 gam ma túy loại Ketamine và 0,7601 gam ma túy loại MDMA, các bị cáo khai nhận dùng để tổ chức sử dụng ma túy. Xét khối lượng ma túy còn lại nhỏ, đủ để các bị cáo và Mai Trọng A, Hoàng Thị Nhật L sử dụng trong một lần. Do đó, hành vi của các bị cáo không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hoàng Ngọc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Hoàng Ngọc T 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-10-2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-10-2024.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đề số 535/01, 535/02 ngày 01/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu niêm phong đóng dấu (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 thẻ nhựa màu xám, 01 bật lửa màu đỏ.
Tịch thu nộp công quỹ 01 tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng; 01 đèn nháy chiếu sáng Laser Show System, đã cũ, 01 loa nghe nhạc có chữ haman kardon, đã cũ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, không tìm thấy số Imel, đã cũ và không hoạt động.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Ngọc T số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại hiệu Iphone màu đen, không tìm thấy số Imel, máy đã cũ và không hoạt động.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 132/BB-CCTHADS ngày 11-9-2023).
3. Án phí: mỗi bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hoàng Ngọc T phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Phú Mỹ; - Công an thành phố Phú Mỹ; - CCTHADS thành phố Phú Mỹ; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - TAND tỉnh BR-VT’ - VKSND tỉnh BR-VT; - PV06 Công an tỉnh BR-VT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Thanh Trà |