vanban.org

Bản án 63/2024/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. [2] Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Đoàn Thanh H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HSPT
Ngày 22 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú.

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết và bà Lưu Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Huế - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/HSPT ngày 19/02/2024, do Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXPT-HS ngày 11/3/2024.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đoàn Thanh H, sinh năm 1980 tại tỉnh B.

Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Đoàn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953. Bị cáo có vợ: Trịnh Thị N, sinh năm 1980 và có 02 (hai) con, con lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/6/2023 đến ngày 22/6/2023. Bị cáo Đoàn Thanh H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10/6/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đoàn Thanh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47S1-02… đến khu vực bến xe phía Nam thuộc phường K, thành phố B để mua ma túy. Tại đây, H gặp 01 (một) người đàn ông (chưa xác định được nhân thân lai lịch) và mua 300.000 đồng ma túy đá, do H đã nhiều lần mua ma túy nên quen biết. Người đàn ông bán cho H 01 gói nylon trong suốt chứa ma túy đá, đồng thời cho H 01 nỏ thủy tinh (gọi là dụng cụ để sử dụng ma túy). Sau đó, H đem số ma túy đá trên về căn nhà xây trong rẫy của mình ở thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk để cất dấu. H tự chế dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 vỏ chai nước Trà xanh không độ có nắp màu trắng, được đục 02 lỗ đầu nắp và gắn 01 ống hút nước; 01 ống thủy tinh có một đầu hình cầu để đổ ma túy đá vào đốt sử dụng (do người bán ma túy cho H trước đó), 01 (một) bật lửa gas màu xanh, đầu bật lửa gas có gắn ống nhựa màu trắng quấn giấy bạc. H đổ số ma túy mua được vào nỏ và sử dụng ma túy đá một mình tại nhà xây trong rẫy của H. Sau khi sử dụng thì vẫn còn dư số ma túy đá trong nỏ nên H cất dấu nỏ có chứa ma túy đá trên bếp trong căn nhà trên. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/6/2023, Võ Minh P đến nhà H nhậu. Tại căn nhà rẫy của Đoàn Thanh H, sau khi nhậu xong, H đã cung cấp ma túy, các công cụ để sử dụng ma túy cho Võ Đình P cùng sử dụng. H đã trực tiếp dùng bật lửa để khò ma túy cho P cùng hút. Sau khi H hút được 04 hơi và P hút được 02 hơi thì nỏ thủy tinh bị bể nên cả hai người dừng hút. Đến khoảng 20 giờ ngày 13/6/2023, khi Đoàn Thanh H và Võ Đình P đang ngồi nghỉ thì Tổ công tác của Phòng PC04 Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng Công an huyện B tiến hành kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đoàn Thanh H về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ trên nền nhà 01 vỏ chai nước Trà xanh không độ có nắp màu trắng, được đục 02 lỗ đầu nắp và gắn 01 ống hút nước màu trắng - tím, 01 ống thủy tinh đã bị bể. Bên cạnh chai nước là 01 mảnh thủy tinh đã bị bể, bên trong mảnh thủy tinh có chất rắn màu trắng ngả vàng. Trên giường có 01 bật lửa gas màu xanh, đầu bật lửa có gắn ống nhựa màu trắng quấn giấy bạc và 01 chiếc điện thoại di động hiệu VIVO gắn 02 sim điện thoại số 0942811617 và 0971811617.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/6/2023 xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại căn nhà rẫy của gia đình bị cáo Đoàn Thanh H, thuộc thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Tại bản Kết luận giám định số 1192/KL-KTHS, ngày 16/06/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận chất rắn màu trắng ngả vàng bám dính trong mảng thủy tinh gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; lượng chất rắn màu trắng ngả vàng bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất lỏng trong suốt bên trong chai nhựa gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine; thể tích mẫu là 350ml; nồng độ Methamphetamine trong mẫu là 0,039mg/ml; khối lượng Methamphetamine có trong 350ml mẫu là 13,65mg (0,01365gam).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2023 đến ngày 22/6/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/01/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xét xử bị cáo Đoàn Thanh H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào chiều tối ngày 13/6/2020, tại căn nhà rẫy của Đoàn Thanh H thuộc thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, Đoàn Thanh H đã cung cấp ma túy và các công cụ sử dụng ma túy cho Võ Minh P sử dụng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ 0,01365gam ma túy, loại Methamphetamin. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo HĐXX thấy: Mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo.

Về án phí hình sự phúc thẩm, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Đoàn Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bị cáo thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh H 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2023 đến ngày 22/6/2023.

[3] Về án phí: Bị cáo Đoàn Thanh H được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ