vanban.org

Bản án 63/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023. Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, tHnh phố H Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình B. Nguyễn Duy H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS -ST
Ngày 30 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Hòa

Bà Hoàng Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Tố Uyên – Thư ký Toà án nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình B; sinh ngày 11/11/2002; tại xã K, huyện S, tHnh phố H Nội; nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, tHnh phố H Nội; nghề ngH: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Huy và bà Nguyễn Thị Tâm; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 300/2019/HSST ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, tHnh phố H Nội xử phạt Nguyễn Đình B 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 403.375 đồng, buộc B bồi thường cho anh Nguyễn Hữu An số tiền 8.067.500 đồng, buộc B truy nộp số tiền 3.000.000đồng. Ngày 10/12/2020, B chấp Hnh xong hình phạt tù, được ra trại. Tháng 5/2020, B chấp Hnh xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Đối với khoản truy nộp 3.000.000 đồng, B chưa nộp. B phạm tội ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2019/HSST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện S, tHnh phố H Nội xử phạt Nguyễn Đình B 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 01/7/2020, Chánh án Tòa án nhân dân huyện S, tHnh phố H Nội ra Quyết định tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 300/2019/HSST ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa và Bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2019/HSST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện S, buộc Nguyễn Đình B phải chấp Hnh hình phạt chung của cả hai bản án là 18 tháng tù. Ngày 10/12/2020, B chấp Hnh xong hình phạt tù của cả hai bản án, được ra trại. Chấp Hnh xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 11/2020. B phạm tội ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích.

+ Ngày 21/3/2024 B bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, tHnh phố H Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày xét xử án đã có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

2. Họ tên: Nguyễn Duy H; sinh ngày 18/7/1994; tại xã K, huyện S, tHnh phố H Nội; nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, tHnh phố H Nội; nghề ngH: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Thả và bà Nguyễn Thị Yến; vợ, con: Chưa có;

- Tiền án: 03 tiền án cụ thể:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2014/HSST ngày 21/8/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Duy H 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chuyển 09 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2012/HSST ngày 05/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện S, tHnh phố H Nội tHnh 09 tháng tù giam, buộc bị cáo chấp Hnh hình phạt chung của cả hai bản án là 39 tháng tù, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 2.375.000 đồng, buộc Nguyễn Duy H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ Cảnh 13.000.000 đồng, anh Lê Văn B 17.000.000 đồng và anh PH Đăng Nhật 9.000.000 đồng, buộc Nguyễn Duy H liên đới bồi thường cho anh Đàm Thuận Hưởng 27.000.000 đồng, anh Đặng Văn Đô 10.000.000 đồng. Ngày 17/10/2014, chấp Hnh xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 22/10/2016, H chấp Hnh xong hình phạt tù, ra trại.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2017/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Duy H 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Chấp Hnh xong án phí tháng 9/2017.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2018/HSST ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện S, tHnh phố H Nội xử phạt Nguyễn Duy H 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 28 tháng tù tại Bản án số 111/2017/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, buộc H chấp Hnh hình phạt chung của cả hai bản án là 06 năm 04 tháng tù; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; án phí dân sự sơ thẩm 1.125.000 đồng; buộc H phải bồi thường cho chị Đỗ Thị Hương số tiền 12.500.000 đồng, bồi thường cho anh Phạm Thế H số tiền 10.000.000 đồng; truy thu của H 4.000.000 đồng sung quỹ NH nước. Ngày 04/9/2023, H chấp Hnh xong hình phạt tù, ra trại. Chấp Hnh xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự và khoản truy thu tháng 7/2018.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2012/HSST ngày 05/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện S, tHnh phố H Nội xử phạt Nguyễn Duy H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án, về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Chấp Hnh xong án phí tháng 8/2012.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

* Bị hại:

+ Chị Lù Thị D, sinh năm 2002, (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Bắc H, tỉnh Lào Cai.

+ Anh PH Quang T, sinh năm 2004, (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu , xã , huyện H, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh PH Mạnh H, sinh năm 1980, (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường Ng, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Chị Lăng Thị Huệ P, sinh năm 1995, (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Anh Nguyễn Đ H, sinh năm 1995, (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Anh Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2003, (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Hoàng Văn D, sinh ngày 08/4/2006, (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Nơi ở hiện nay: Phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm và thu nhập nên Nguyễn Đình B, sinh năm 2002, trú tại thôn X, xã K, huyện S, tHnh phố H Nội đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, B rủ Nguyễn Duy H, sinh năm 1994, cùng trú tại thôn X, xã K, huyện S, tHnh phố H Nội đi trộm cắp tài sản cùng thì H đồng ý. Ngoài ra, B còn rủ 01 đối tượng khác theo B khai tên là Nguyễn Hữu Tuân, sinh năm 1997, trú tại thôn Xuân Lai, xã Xuân Thu, huyện S, tHnh phố H Nội và bảo Tuân tìm thêm 02 người nữa cùng đi đến khu vực vòng xuyến trạm thu phí cũ xã Quất Lưu, huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để mang xe mô tô B trộm cắp được về xã K rồi B sẽ trả công cho thì Tuân đồng ý. Để thực hiện Hnh vi phạm tội, B cầm theo 01 chiếc vam phá khóa xe mô tô hình chữ “L” và sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 97B2-146.38 đến đón H đi trộm cắp tài sản. Sau đó, H điều khiển xe mô tô trên chở B đi dọc theo đường QL2A đến tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2023 đến ngày 03/10/2023, B và H đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Khai Quang, phường Liên Bảo, phường Ngô Quyền, tHnh phố Vĩnh Yên và xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 01/10/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, BKS: 97B2-146.38 chở theo B đi từ xã K, huyện S, tHnh phố H Nội đến tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để trộm cắp xe máy. Đi sau H và B là Tuân và 02 nam giới bạn của Tuân (theo B khai tên là Tiến và Minh) đi taxi đến vòng xuyến xã Quất Lưu, huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để chờ H và B trộm cắp được xe máy sẽ điều khiển xe đi cất giấu, tiêu thụ. Khi đi, H mặc áo chống nắng màu đen, quần bò màu xanh, đeo giày thể thao màu đen, đội mũ bảo hiểm màu đen; còn B mặc áo sơ mi màu trắng, quần bò màu đen, đội mũ bảo hiểm màu đen, đeo giày thể thao và đeo túi chéo màu đen. Khi đi qua ngã tư giao nhau giữa đường Nguyễn Tất THnh và đường Tôn Đ Thắng thuộc phường Khai Quang, tHnh phố Vĩnh Yên khoảng 50m hướng đi vòng xuyến HC, H và B thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen bạc, BKS: 24Z1-124.13 của chị Lù Thị D, sinh năm 2002, trú tại: Thôn Na Ản, xã Cốc Ly, huyện Bắc H, tỉnh Lào Cai đang dựng ở vỉa hè trước cửa Thẩm mỹ viện Sofia ở số L35, Chung cư City Light, đường Nguyễn Tất THnh. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý nên H và B thống nhất trộm cắp xe mô tô trên. H dừng xe ở ven đường và nổ máy sẵn để cảnh giới, còn B đến vị trí chiếc xe mô tô trên, rút từ trong túi quần phía sau bên trái 01 vam phá khóa rồi chọc vào ổ khóa và dùng hai tay vặn vam theo chiều từ trái qua phải thì phá được ổ khóa. Sau đó, B ngồi lên xe mô tô của chị D và đề nổ máy, phóng ngược chiều đường Nguyễn Tất THnh còn H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 đi theo sau. Khi đi đến khu vực trạm thu phí cũ xã Quất Lưu, B giao xe mô tô BKS: 24Z1-124.13 cho nhóm của Tuân rồi cùng H quay lại tHnh phố Vĩnh Yên để tiếp tục trộm cắp tài sản.

Ngày 01/10/2023, chị Lù Thị D đến Công an phường Khai Quang trình báo sự việc chị bị mất trộm tài sản là chiếc xe mô tô có đặc điểm như trên.

- Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ cùng ngày 01/10/2023, khi đi đến đường Chu Văn An thuộc phường Liên Bảo, tHnh phố Vĩnh Yên, H và B quan sát thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19F1-433.97 của anh PH Quang T, sinh năm 2004, trú tại khu 2, xã Lang Sơn, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đang dựng trên vỉa hè sát tường rào trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc đồng thời không có người trông giữ nên thống nhất trộm cắp chiếc xe trên. H dừng xe ở ven đường và nổ máy sẵn, còn B xuống xe lấy vam phá khóa đi đến vị trí sườn trái xe mô tô BKS: 19F1-433.97, bằng cách thức như trên, mở ổ khóa điện rồi lên xe, nổ máy và điều khiển xe đi đến khu vực vòng xuyến xã Quất Lưu, còn H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 đi theo sau. Khi đi đến khu vực trạm thu phí cũ xã Quất Lưu, B giao xe mô tô vừa trộm cắp được cho nhóm của Tuân rồi cùng H quay lại tHnh phố Vĩnh Yên để tiếp tục trộm cắp tài sản.

Ngày 01/10/2023, anh PH Quang T đến Công an phường Liên Bảo trình báo sự việc anh bị mất trộm tài sản là chiếc xe mô tô có đặc điểm như trên.

- Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 01/10/2023, khi đi qua đường Lý Bôn, phường Ngô Quyền, tHnh phố Vĩnh Yên, H và B quan sát thấy trên vỉa hè trước cửa số nH 43 đường Lý Bôn có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 88B1-334.41 của anh PH Mạnh H, sinh năm 1980, trú tại Tổ dân phố Lý Tự Trọng, phường Ngô Quyền, tHnh phố Vĩnh Yên không có người trông coi. H dừng xe và nổ máy sẵn đứng ở ven đường để cảnh giới, còn B xuống xe lấy vam phá khóa đi đến vị trí sườn trái xe mô tô BKS 88B1-334.41, bằng cách thức như trên, mở ổ khóa điện rồi nổ máy và điều khiển xe đến khu vực vòng xuyến xã Quất Lưu, còn H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 đi theo sau. Khi đi đến khu vực trạm thu phí cũ Quất Lưu, B giao xe mô tô vừa trộm cắp được cho nhóm của Tuân rồi H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 chở B về nH.

Ngày 01/10/2023, anh PH Mạnh H đến Công an phường Ngô Quyền trình báo sự việc anh bị mất trộm tài sản là chiếc xe mô tô có đặc điểm như trên.

Đối với 03 chiếc xe mô tô trộm cắp được ngày 01/10/2023, quá trình điều tra, B khai đã bán cho Nguyễn Hữu Tuân được tổng số tiền 16.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên B và H đã tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ tư: Ngày 03/10/2023, Nguyễn Đình B rủ Nguyễn Duy H tiếp tục đi đến tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để trộm cắp xe mô tô thì H đồng ý. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô Exciter, BKS: 97B2-146.38 chở B đi từ xã K, huyện S, tHnh phố H Nội đến tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để trộm cắp tài sản. Khi đi, H mặc áo chống nắng màu đen, quần bò màu đen, đeo giày thể thao màu đen, đội mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng; B mặc áo chống nắng màu đen, quần bò sáng màu, đeo giày thể thao, đội mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen. Khi đi qua ngã tư giao nhau giữa đường Tôn Đ Thắng và Quốc lộ 2, H nhìn thấy trên vỉa hè trước cửa Hng gạch và thiết bị vệ sinh Pha Lê, số 363 đường Mê Linh, phường Khai Quang có 01 xe mô tô Honda Wave, BKS: 88G1-477.06 của chị Lăng Thị Huệ P, sinh năm 1995, trú tại thôn Gia Khau, xã Trung Mỹ, huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc dựng sau gốc cây. Quan sát không thấy có người qua lại, H dừng xe và nổ máy sẵn đứng ở ven đường để cảnh giới, còn B xuống xe cầm theo vam phá khóa đi đến vị trí sườn trái xe mô tô để phá ổ khóa điện nhưng thấy xe đang khóa cổ nên B ngồi lên yên xe, dùng chân phải đạp mạnh vào tay lái phải để phá khóa cổ rồi luồn tay vào bên trong hốc đầu xe, kéo đứt 02 sợi dây điện nối đến ổ khóa điện và đấu vào với nhau. Sau đó, B đề nổ máy và điều khiển xe vừa trộm cắp được đi ngược chiều đường Mê Linh đến trạm thu phí cũ xã Quất Lưu giao xe cho nhóm của Tuân, H cũng điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 đi theo. Sau đó, H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 chở B quay lại tHnh phố Vĩnh Yên để tiếp tục trộm cắp tài sản.

Ngày 03/10/2023, chị Lăng Thị Huệ P đến Công an phường Khai Quang trình báo sự việc chị bị mất trộm tài sản là chiếc xe mô tô có đặc điểm như trên.

- Vụ thứ năm: Khoảng 11 giờ 30 ngày 03/10/2023, H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 chở B đi qua đường Trần Phú thuộc phường Liên Bảo, tHnh phố Vĩnh Yên thì thấy 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen, BKS: 88B1-362.24 của anh Nguyễn Đ H, sinh năm 1995, trú tại Tổ dân phố Chám, phường Định Trung, tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc dựng trước cửa số nH 75 đường Trần Phú, đầu xe hướng vào trong nH, đuôi xe hướng ra ngoài đường. H quan sát xung quanh không có người trông coi nên dừng xe trước cửa số nH 75, cách vị trí chiếc xe mô tô trên khoảng 03m và nổ máy sẵn, còn B xuống xe lấy vam phá khóa từ trong túi đeo chéo rồi chọc vào ổ khóa điện, mở khóa và nổ máy rồi điều khiển xe mô tô BKS: 88B1 – 362.24 đi về hướng H Nội. H cũng điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 theo sau. Khi đến trạm thu phí cũ xã Quất Lưu, B giao xe mô tô BKS: 88B1- 362.24 cho nhóm của Tuân quản lý rồi cùng H đi trộm cắp tiếp.

Ngày 03/10/2023, anh Nguyễn Đ H đến Công an phường Liên Bảo trình báo sự việc anh bị mất trộm tài sản là chiếc xe mô tô có đặc điểm như trên.

Đối với 02 xe mô tô BKS: 88G1- 477.06 và BKS: 88B1- 362.24 trộm cắp được trên địa bàn tHnh phố Vĩnh Yên nêu trên, quá trình điều tra, B khai đã bán cho Nguyễn Hữu Tuân được số tiền 10.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên, B và H đã tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ sáu: Sau khi giao chiếc xe trộm cắp trong vụ thứ 5 cho nhóm Tuân thì H điều khiển xe chở B đi theo đường tránh Vĩnh Yên đến huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước cửa quán sửa chữa xe máy và quán bia của anh Trần Quang Trắng, sinh năm 1986, ở thôn Đồng Lạc 3, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc thì H và B quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave α, không gắn BKS của anh Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2003, trú tại thôn Đồng Lạc 3, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc đang dựng tại đây. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý chiếc xe mô tô trên nên H và B cùng thống nhất sẽ trộm cắp chiếc xe này. H dừng xe và nổ máy sẵn đứng ở ven đường để cảnh giới, còn B xuống xe cầm vam phá khóa đúc vào ổ khóa điện và dùng lực hai tay vặn vam theo chiều từ trái qua phải thì phá được ổ khóa điện. Sau đó, B ngồi lên yên xe mô tô đề nổ máy và điều khiển xe về hướng trạm thu phí cũ xã Quất Lưu còn H điều khiển xe mô tô BKS: 97B2-146.38 đi phía sau B. Khi đến trạm thu phí cũ xã Quất Lưu, B giao xe mô tô vừa trộm cắp được cho nhóm của Tuân quản lý rồi H điều khiển xe mô tô chở B đi về. Quá trình điều tra, B khai đã bán cho Tuân xe mô tô trên được số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền này B và H mỗi người được hưởng 2.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên, B và H đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 09/10/2023, anh Nguyễn Anh Đ đến Công an xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc trình báo sự việc anh bị mất trộm tài sản là chiếc xe mô tô có đặc điểm như trên.

Ngày 08/10/2023, H điều khiển xe mô tô BKS 97B2-146.38 chở B đi đến tHnh phố Vĩnh Yên để tiếp tục trộm cắp xe máy. Khi đến khu vực trước cửa nH số 16S1, đường Trần Phú, phường Định Trung, tHnh phố Vĩnh Yên, quan sát thấy 01 xe máy Honda Blade màu trắng đen, BKS: 88B1 – 280.50 của anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1980, trú tại số nH trên, dựng ở vỉa hè trước cửa, xung quanh không có người trông giữ nên H dừng xe, còn B xuống xe, lấy ra từ trong túi đeo chéo 01 vam phá khóa, tiến lại vị trí xe máy Honda Blade để trộm cắp chiếc xe này, tuy nhiên khi B đi đến gần vị trí chiếc xe thì bị Tổ công tác phòng chống tội phạm Công an tHnh phố Vĩnh Yên phát hiện, bắt giữ B và H. Cơ quan Công an đã tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 97B2-146.38; 01 vam phá khóa hình chữ L có tay cầm màu đỏ, đen; 01 B xịt hơi cay màu đen. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tHnh phố Vĩnh Yên đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H để tiến Hnh điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại các bản Kết luận định giá tài sản số: 146, 147, 148, 149, 150 cùng ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên kết luận:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen, BKS: 88B1-362.24, số khung: RLHJA3924NY746323, số máy: JA39E2966732 trị giá 16.000.000 đồng;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen, BKS: 88G1-477.06, số khung: RLHJA3929MY024926, số máy: JA39E2140900 trị giá 15.000.000 đồng;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave α, màu đen, biển BKS: 24Z1-124.13, số khung: RLHJA3926PY459939, số máy: JA39E3080948 trị giá 22.000.000 đồng;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave α, màu sơn: Xanh - bạc, biển BKS: 19F1-433.97, số khung: RLHJA3925PY479437, số máy: JA39E3100449 trị giá 19.000.000 đồng;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn: Xanh - đen - bạc, BKS 88B1-334.41, số khung: RLHJA3923MY277868, số máy: JA39E2400557 trị giá 14.300.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 36 ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân huyện Yên Lạc kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại JA Wave α, màu xanh, không gắn BKS, số khung: RLHJA3934PY071116, số máy: JA70E0099301 trị giá 17.235.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản mà các bị cáo trộm cắp qua định giá là: 103.535.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tHnh phố Vĩnh Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã Thông báo Kết luận định giá cho các bị hại và các bị cáo biết đều nhất trí, không ai có ý kiến gì.

Tại Cáo trạng số: 52/CT - VKSVY ngày 29 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên truy tố đối với các bị cáo: Nguyễn Đình B đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bị cáo Nguyễn Duy H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi đá nh giá tí nh chấ t, mứ c độ hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cá o và cá c tì nh tiế t tăng nặ ng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật hình sự, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023.

Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, tHnh phố H Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi Hnh án. Buộc bị cáo B phải chấp Hnh chung cho cả hai bản án với mức án từ 05 (Năm) năm 10 (Mười) tháng đến 06 (Sáu) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023.

Áp dụng: Điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023.

- Về xử lý vật chứng : Đề nghị áp dụng Điề u 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm2017; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 vam phá khóa hình chữ L có tay cầm màu đỏ, đen; 01 B xịt hơi cay màu đen.

Trả lại cho anh Hoàng Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 97B2 – 146.38 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 97B2 – 146.38 mang tên Triệu Văn Liêu.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 587, Điều 589, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Đình B phải liên đới bồi thường cho: Chị Lù Thị D số tiền 22.000.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 11.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 11.000.000 đồng. Anh PH Quang T số tiền 19.000.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 9.500.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 9.500.000 đồng. Anh PH Mạnh H số tiền 14.300.000 đồng, trong đó, bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 7.150.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 7.150.000đồng. Chị Lăng Thị Huệ P số tiền 15.000.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 7.500.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 7.500.000 đồng. Anh Nguyễn Anh Đ số tiền 17.235.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 8.617.500 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 8.617.500 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật bị cáo Nguyễn Đình B và bị cáo Nguyễn Duy H không tự nguyện thi Hnh số tiền trên cho cho chị Lù Thị D, anh PH Quang T, anh PH Mạnh H, chị Lăng Thị Huệ P và anh Nguyễn Anh Đ thì Hng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị áp dụng theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Các bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến bổ sung gì khác.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo:

+ Bị cáo Nguyễn Đình B nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai, là vi phạm pháp luật . Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo đượ c sớ m trở về vớ i gia đì nh, trở thà nh ngườ i công dân có í ch cho xã hộ i.

+ Bị cáo Nguyễn Duy H nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai, là vi phạm pháp luật . Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo đượ c sớ m trở về vớ i gia đì nh, trở thà nh ngườ i công dân có í ch cho xã hộ i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tHnh phố Vĩnh Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội D: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2023 đến ngày 03/10/2023, Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Khai Quang, phường Liên Bảo, phường Ngô Quyền, tHnh phố Vĩnh Yên và xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc với tổng trị giá tài sản trộm cắp theo Kết luận định giá là 103.535.000 đồng, cụ thể như sau:

+ Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/10/2023, tại khu vực trước cửa Thẩm mỹ viện Sofia ở số L35, chung cư City Light, đường Nguyễn Tất THnh, phường Khai Quang, tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, B và H thực hiện Hnh vi trộm cắp của chị Lù Thị D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 24Z1- 124.13. Trị giá xe theo kết luận định giá là 22.000.000 đồng.

+ Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 01/10/2023, tại khu vực vỉa hè sát tường rào trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc trên đường Chu Văn An, phường Liên Bảo, tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, B và H thực hiện Hnh vi trộm cắp của anh PH Quang T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19F1- 433.97. Trị giá xe theo kết luận định giá là 19.000.000 đồng.

+ Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 01/10/2023, tại khu vực vỉa hè trước cửa số nH 43 đường Lý Bôn, phường Ngô Quyền, tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, B và H thực hiện Hnh vi trộm cắp của anh PH Mạnh H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88B1-334.41. Trị giá xe theo kết luận định giá là 14.300.000đ.

+ Vụ thứ tư: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, tại khu vực vỉa hè trước cửa Showroom Pha Lê, số 363 đường Mê Linh, phường Liên Bảo, tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, B và H thực hiện Hnh vi trộm cắp của chị Lăng Thị Huệ P 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88G1-477.06. Trị giá xe theo kết luận định giá là 15.000.000đ.

+ Vụ thứ năm: Khoảng 11 giờ ngày 03/10/2023, tại khu vực trước cửa số nH 75 đường Trần Phú, phường Liên Bảo, tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, B và H thực hiện Hnh vi trộm cắp của anh Nguyễn Đ H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88B1-362.24. Trị giá xe theo kết luận định giá là 16.000.000 đồng.

+ Vụ thứ sáu: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, tại khu vực trước cửa quán sửa chữa xe máy Trắng Thơm ở thôn Đồng Lạc 3, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, B và H thực hiện Hnh vi trộm cắp của anh Nguyễn Anh Đ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không gắn BKS. Trị giá xe theo kết luận định giá là 17.235.000 đồng.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án; lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra. Phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội D Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Xét thấy trong vụ án này các bị cáo 6 lần thực hiện Hnh vi trộm cắp, các lần trộm cắp đều có giá trị trên 2.000.000 đồng, về thời gian có tính chất liên tục và kế tiếp nhau. Các bị cáo không có nghề ngH ổn định, lấy nguồn thu nhập từ Hnh vi trộm cắp là nguồn thu nhập chính, Hnh vi phạm tội của các bị cáo phạm tội có tính chất chuyên ngH, từ đó có đủ cơ sở kết luận các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Đình B đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nội D điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…

b) Có tính chất chuyên ngH;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

……”.

Bị cáo Nguyễn Duy H đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nội D điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…

b) Có tính chất chuyên ngH;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

…

g) Tái phạm nguy hiểm;

…”.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo theo Cáo trạng số: 52/CT - VKSTPVY ngày 29 tháng 3 năm 2024 truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm nghiêm trọng nhưng Hnh vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất B trong nhân dân. Hnh vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét vai trò của các bị cáo cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H sáu lần thực hiện Hnh vi phạm tội giá trị tài sản của mỗi lần trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Đối với Nguyễn Đình B trong vụ án này là người chủ mưu, rủ rê, khởi xướng cùng Nguyễn Duy H thực hiện Hnh vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tHnh khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, đã từng 02 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản đều vào năm 2019. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tư dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện việc coi thường pháp luật, không ăn năn hối cải của bị cáo. Do vậy, cần xử lý nghiêm buộc bị cáo phải cách ly khỏi cuộc sống cộng đồng với mức án như đại diện của Viện kiểm sát đề xuất mới đủ tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

Ngoài ra, ngày 21/3/2024 B bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, tHnh phố H Nội xử phạt 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo phạm tội trong trường hợp đang phải chấp Hnh một bản án mà lại bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Do vậy, bị cáo B phải chịu hình phạt của tội bị xét xử lần này và cộng với hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, tHnh phố H Nội.

+ Đối với Nguyễn Duy H là đồng phạm giúp sức tích cực, cùng với Nguyễn Đình B thực hiện Hnh vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án chưa được xóa án tích đều về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2014, 2017, 2018. Ngoài ra, năm 2012 bị cáo cũng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi trở về địa P bị cáo không lấy đó làm bài học để tư dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội.

Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tHnh khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ các bị cáo B và H không có nghề ngH; không có tài sản riêng và không có tài sản thừa kế nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đố i vớ i bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô BKS: 88B1- 362.24 của anh Nguyễn Đ H bị B và H trộm cắp ngày 03/10/2023, quá trình điều tra xác định: Ngày 11/10/2023, trong quá trình tuần tra kiểm soát, Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La đã phát hiện và tạm giữ xe mô tô trên nhưng không phát hiện đối tượng nghi vấn liên quan. Ngày 26/11/2023, Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương đã bàn giao chiếc xe mô tô trên cho anh H theo quy định. Anh H đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với xe mô tô BKS: 24Z1- 124.13 của chị Lù Thị D; xe mô tô BKS: 19F1- 433.97 của anh PH Quang T, xe mô tô BKS: 88B1- 334.41 của anh PH Mạnh H, xe mô tô BKS: 88G1- 477.06 của chị Lăng Thị Huệ P, xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại JA Wave α, màu xanh, không gắn BKS của anh Nguyễn Anh Đ, đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa thu giữ được. Quá trình điều tra, những người bị hại yêu cầu B và H phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cụ thể: Chị Lù Thị D yêu cầu B và H bồi thường số tiền 22.000.000 đồng; anh PH Quang T yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 19.000.000 đồng; anh PH Mạnh H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 14.300.000 đồng; chị Lăng Thị Huệ P yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Anh Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 17.235.000 đồng theo Kết luận định giá của cơ quan chuyên môn. Tại phiên tòa các bị cáo B và H đều đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Vì vậy, cần buộc bị cáo B và bị cáo H liên đới bồi thường cho chị D, anh T, anh H, chị P và anh Đ với số tiền như đã nêu trên là phù hợp.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 97B2- 146.38 B và H sử dụng làm P tiện đi trộm cắp tài sản, B khai nguồn gốc chiếc xe trên là do B nhận cầm cố của 01 người tên Quang ở tỉnh Bắc Ninh với số tiền 5.000.000 đồng vào khoảng tháng 9/2023. Quá trình điều tra, ngày 09/10/2023, anh Hoàng Văn D, sinh năm 2006, nơi thường trú: thôn Nà Ản, xã Kim Hỷ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, hiện ở phường P Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 97B2-146.38 mang tên Triệu Văn Liêu, sinh năm 1996, địa chỉ thôn Nà Hồng, xã Bằng Phúc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Anh D khai nguồn gốc chiếc xe trên do anh mua tại cửa Hng mua bán xe máy cũ của chị Quản Thị Hiền, sinh năm 1982, ở phường Huyền Tụng, tHnh phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn ngày 21/6/2023. Tuy nhiên, ngày 27/9/2023, anh D bị mất trộm chiếc xe mô tô trên tại phường P Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh nhưng chưa trình báo cơ quan chức năng. Làm việc với Cơ quan điều tra, anh Triệu Văn Liêu khai nhận có mua và đăng ký chính chủ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 97B2-146.38 vào tháng 8/2022; đến cuối tháng 5/2023, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Liêu bán lại xe mô tô trên cho chị Quản Thị Hiền; chị Hiền trình bày có mua xe mô tô của anh Triệu Văn Liêu và bán lại cho anh Hoàng Văn D như trên. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 97B2-146.38 và Giấy chứng nhận đăng ký xe là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn D, cần trả lại cho anh D.

Đối với 01 vam phá khóa hình chữ L có tay cầm màu đỏ, đen; 01 B xịt hơi cay màu đen, quá trình điều tra xác định là công cụ B và H sử dụng thực hiện Hnh vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 04 đĩa DVD kèm theo các Kết luận giám định số 3669, 3570, 3571, 3572 được niêm phong trong 04 phong bì, có chữ kí của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về giám định kỹ thuật số điện tử: Ngày 30/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tHnh phố Vĩnh Yên ra các Quyết định trưng cầu giám định số: 667, 668, 669, 670/QĐ-ĐCSHS trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với các đoạn video liên quan đến 04 vụ trộm cắp xe mô tô BKS: 24Z1-124.13, xe mô tô BKS: 88B1-362.24, xe mô tô BKS: 88G1-477.06, xe mô tô BKS: 88B1-334.41. Ngày 31/12/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có các Kết luận giám định số: 3569, 3570, 3571, 3572/KL-KTHS, kèm theo là 04 bản ảnh giám định, 04 đĩa DVD có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 05/02/2024, Cơ quan điều tra đã thông báo các kết luận giám định trên cho B và H, các bị cáo không có ý kiến gì.

- Đối với Nguyễn Hữu Tuân, sinh năm 1997, ở thôn Xuân Lai, xã Xuân Thu, huyện S, tHnh phố H Nội là người B khai nhận đã được B nhờ mang xe mô tô trộm cắp được từ trạm thu phí Quất Lưu về xã K, đồng thời B đã bán các xe mô tô trộm cắp được cho Tuân. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến Hnh xác minh tại thôn Xuân Lai, xã Xuân Thu, huyện S, tHnh phố H Nội nhưng không có người nào có tên, tuổi như nêu trên. Ngoài lời khai của B, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nhân thân, lai lịch của người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

- Đối với người tên Tiến, Minh mà B khai nhận đi cùng Tuân mang xe mô tô do B và H trộm cắp được từ trạm thu phí Quất Lưu đi tiêu thụ, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xác định nhân thân, lai lịch của những người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

- Đối với người tên Sơn ở tỉnh Bắc Giang mà B khai nhận đã mua lại từ Nguyễn Hữu Tuân 05 chiếc xe mô tô do B và H trộm cắp được trên địa bàn tHnh phố Vĩnh Yên, quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xác định nhân thân, lai lịch của người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và mỗi bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự với số tiền là 43.767.500 đồng x 5% = 2.188.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình B và Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023.

Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, tHnh phố H Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi Hnh án. Buộc bị cáo B phải chấp Hnh chung cho cả hai bản án với mức án là 06 (Sáu) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023.

Căn cứ vào điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 10 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điề u 47 của Bộ luật hình sự năm2015, sửa đổi bổ sung năm2017; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 vam phá khóa hình chữ L có tay cầm màu đỏ, đen; 01 B xịt hơi cay màu đen.

Trả lại cho anh Hoàng Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 97B2 – 146.38 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 97B2 – 146.38 mang tên Triệu Văn Liêu.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập giữa Công an tHnh phố Vĩnh Yên với Chi cục Thi Hnh án dân sự tHnh phố Vĩnh Yên).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 587, Điều 589, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Duy H và bị cáo Nguyễn Đình B phải liên đới bồi thường cho các bị hại cụ thể:

Chị Lù Thị D số tiền 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng), trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 11.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 11.000.000 đồng.

Anh PH Quang T số tiền 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng), trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 9.500.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 9.500.000 đồng.

Anh PH Mạnh H số tiền 14.300.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm nghìn đồng), trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 7.150.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 7.150.000đồng.

Chị Lăng Thị Huệ P số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 7.500.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 7.500.000 đồng.

Anh Nguyễn Anh Đ số tiền 17.235.000 đồng (Mười bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng), trong đó bị cáo Nguyễn Duy H phải bồi thường 8.617.500 đồng; bị cáo Nguyễn Đình B phải bồi thường 8.617.500 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật bị cáo Nguyễn Đình B và bị cáo Nguyễn Duy H không tự nguyện thi Hnh số tiền trên cho cho chị Lù Thị D, anh PH Quang T, anh PH Mạnh H, chị Lăng Thị Huệ P và anh Nguyễn Anh Đ thì Hng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo B và bị cáo H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Buộc bị cáo H và bị cáo B phải nộp tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự mỗi bị cáo phải nộp là 2.188.000 đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Quyết định này được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự.

Cỡ chữ