vanban.org

Bản án 63/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mã Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mã Trọng N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã Trọng N phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mã Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự - Áp dụng điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST
Ngày: 19-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Châu Văn Bình.

2. Ông Trương Hoàng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Mã Trọng N, sinh năm 1999, tại tỉnh Long An; Căn cước công dân: 080099002736; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Ki, xã V, huyện V, tỉnh L; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mã Phi L (đã chết) và bà Lê Thị Thu T; Bị cáo chưa vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt ngày 29/7/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Bình L, sinh năm 1990; (có mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 08/4/2024, anh Trần Bình L đi làm về đến nhà thì phát hiện mất tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Sonic, màu vàng đen, biển số 83Y1-022.66, mua năm 2020 với giá 30.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 đã qua sử dụng, mua năm 2021 với giá 2.700. 000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 đã qua sử dụng, mua đầu năm 2024 với giá 1.500.000 đồng, 01 máy rửa xe loại cầm tay có gắn kèm 05 mét dây rửa xe, 01 áo khoác dài tay màu xám, 01 nón bảo hiểm màu đỏ và 01 đôi dép hiệu Adidas nên trình báo Công an.

Quá trình điều tra, xác định Mã Trọng N là bạn của anh Trần Bình L, được anh Long cho ở nhờ tại nhà đã trộm cắp tài sản của anh Long. Bị cáo N khai nhận: Khoảng 08 giờ sáng một ngày của tháng 4/2024 (không nhớ rõ ngày), Nghĩa đang ở nhà anh Long, lúc này vợ chồng anh Long đều đang đi làm nên Nghĩa nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh Long để bán lấy tiền tiêu xài. Ngay sau đó, Nghĩa đã lấy trộm 01 mô tô hiệu Honda, loại Sonic đang dựng trước nhà, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu xanh, bị bể màn hình trong túi áo treo gần cửa sổ, 01 máy rửa xe loại cầm tay có gắn kèm 05 mét dây rửa xe để trước nhà, 01 áo khoác dài tay màu xám treo ở xào phơi quần áo ngoài sân, 01 nón bảo hiểm màu đỏ treo sẵn trên xe và 01 đôi dép hiệu Adidas để trước thềm nhà, sau đó Nghĩa điều khiển xe Sonic chạy lên Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến địa phận huyện Bến Lức, tỉnh Long An, bị cáo bán máy rửa xe cho chị Hoàng Thị Chín, sinh năm 1990, ngụ ấp Chánh, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, là chủ 01 vựa ve chai, được 450.000 đồng, Nghĩa dùng để ăn uống, đổ xăng rồi tiếp tục đi lên Thành phố Hồ Chí Minh. Đến sáng hôm sau, Nghĩa ra khu vực chân cầu Rạch Chiếc bán 01 điện thoại di động cho người không rõ họ tên, địa chỉ được 600.000 đồng, đến chiều cùng ngày tiếp tục bán xe mô tô Sonic cho người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) được 2.800.000 đồng. Toàn bộ số tiền này Nghĩa tiêu xài cá nhân hết.

Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường tại nhà anh Trần Bình L, thuộc ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh T, Mã Trọng N xác định vị trí để các tài sản trước khi lấy trộm.

Ngày 08/4/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất 01 đoạn video clip từ camera an ninh của nhà dân và tiến hành cho bị cáo N xem đoạn video clip, Nghĩa xác nhận người thanh niên trong đoạn clip là Nghĩa, lúc đó Nghĩa vừa trộm cắp tài sản nhà anh Long rồi điều khiển xe lên Thành phố Hồ Chí Minh.

* Kết luận định giá số 14/KL-ĐGTS ngày 24/4/2024 và số 28/KL-ĐGTS ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá trong TTHS huyện C kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Sonic, màu vàng đen, biển số 83Y1-022.66 có giá trị 30.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 có giá trị 2.145.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 có giá trị 1.676.000 đồng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu nên không xác định được giá trị; 01 áo khoác nam dài tay màu đen, đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu nên không xác định được giá trị; 01 đôi dép kẹp nam hiệu Adidas màu nâu đen, mua năm 2024, giá trị 60.000 đồng; 01 máy rửa xe cầm tay có gắn kèm 05 mét dây rửa xe đã qua sử dụng, mua cũ từ năm 2023 nên không xác định được giá trị. Tổng tài sản bị mất trộm là 33.881.000 đồng.

Đối với điện thoại di động hiệu Samsung A13, bị hại Trần Bình L khai bị mất trộm, có giá trị là 1.676.000 đồng, tuy nhiên bị cáo N không thừa nhận có lấy trộm điện thoại này nên không có cơ sở quy kết trách nhiệm của bị cáo đối với giá trị điện thoại di động hiệu Samsung A13.

* Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSCG ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Mã Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Mã Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mã Trọng N từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng tài sản bị mất là 33.881.000 đồng bao gồm điện thoại Samsung A13 giá trị 1.676.000 đồng, tuy nhiên không có cơ sở kết luận bị cáo trộm điện thoại Samsung A13 và tại phiên tòa bị hại rút lại yêu cầu bị cáo bồi thường 1.676.000 đồng giá trị điện thoại Samsung A13. Bị cáo đồng ý bồi thường tổng tài sản bị cáo trộm 32.205.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với đôi dép Adidas bị hại không yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo có tội và bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy mình sai, tha thiết xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, để sớm trở về, làm việc bồi thường cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Lúc 08 giờ ngày 08/4/2024, tại ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh T, bị cáo Mã Trọng N có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trần Bình L, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, biển số 83Y1-022.66, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu xanh bị bể màn hành, 01 nón bảo hiểm màu đỏ, 01 áo khoác nam dài tay màu đen, 01 đôi dép kẹp nam hiệu Adidas màu nâu đen, 01 máy rửa xe cầm tay có gắn kèm 05 mét dây rửa xe. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 32.205.000 đồng.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết luận định giá, lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Bị hại cho rằng bị cáo ngoài những tài sản đã truy tố thì bị cáo còn lấy trộm điện thoại Samsung A13 màu đen. Tuy nhiên, không có cơ sở kết luận tài sản điện thoại Samsung A13 bị mất là do bị cáo N trộm, bị cáo không thừa nhận lấy tài sản này. Quá trình đối chất cũng thể hiện có sự mâu thuẫn về việc tài sản bị mất đối với điện thoại Samsung A12 hay A13 nhưng bị cáo đã thừa nhận lấy trộm 01 điện thoại Samsung màu xanh và bị bể màn hình. Bị hại xác định đó là điện thoại Samsung A12. Do đó, việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo lấy trộm 01 điện thoại Samsung A12 là có căn cứ. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mã Trọng N phạm tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là thanh niên trong độ tuổi lao động nhưng để có tiền tiêu xài, phục vụ cho lợi ích cá nhân, ý thức lười lao động nhưng lại thích hưởng thụ, bị cáo N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác với giá trị lớn. Đồng thời, gia đình bị hại đã cưu mang bị cáo, cho bị cáo ở chung nhà và tạo công ăn việc làm cho bị cáo, nhưng bị cáo đã lợi dụng lòng tin của bị hại để lấy tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác và trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đồng thời gây mất lòng tin giữa người với người trong xã hội. Do đó, bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mã Trọng N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời bị cáo N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Với tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để tuyên xử mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Xét cần thiết phải cách ly bị cáo N khỏi đời sống chung với xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có nộp đôi dép kẹp Adidas là vật chứng trong vụ án, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu nhận lại và tài sản không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường tổng giá trị bị mất là 33.881.000 đồng bao gồm điện thoại Samsung A13 tuy nhiên không cơ sở kết luận bị cáo lấy điện thoại này nên không căn cứ để buộc bị cáo bồi thường số tiền điện thoại Samsung A13 bị mất là 1.676.000 đồng, tại phiên tòa bị hại cũng rút lại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị điện thoại Samsung A13. Do đó, cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 32.205.000 đồng là giá trị tổng tài sản bị cáo trộm của bị hại theo Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Xét phân tích và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mã Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Mã Trọng N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024.

2. Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) đôi dép kẹp nam màu nâu đen có chữ Adidas.

(Theo biên bản giao vật chứng ngày 19/11/2024)

3. Về trách nhiệm dân sự:

- Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ Điều 589 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Mã Trọng N bồi thường cho bị hại Trần Phi Long 32.205.000 đồng (Ba mươi hai triệu hai trăm lẻ năm ngàn đồng).

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo N chậm bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm bồi thường theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

4. Về án phí:

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự

- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.610.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ