- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Trọng S - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ : Điểm a Khoản 1 Điều 142, Điểm s, Điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 56 (Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án) Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 142 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN T HNH PHỐ H NỘI -------------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HSST Ngày: 30/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
T Hnh phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Vĩnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh
Bà Nguyễn Thị Lâm (Nguyên giáo viên)
Thư ký toà án - ghi biên bản phiên toà:
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:
- Ông H Minh Tuấn – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, t Hnh phố H Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/HSST-TL ngày 20/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐINH TRỌNG S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. S ngày 20 tháng 6 năm 1964, tại: Thái Bình. HKTT: xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ văn hóa:10/10. Họ tên bố: Đinh Trọng T, S năm: 1940. Họ tên mẹ: Vũ Thị G, S năm: 1932. Họ tên vợ: Nguyễn Thị Y, S năm: 1965. Bị cáo có 02 con, con lớn S năm 1986, con út S năm 1987. Theo danh chỉ bản số: 500, lập ngày 12/7/2022, tại Công an quận Long Biên, H Nội bị cáo có 01 tiền án:
Tại bản án số: 74/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 bị TAND huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình xử 12 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt là 15 năm tù. Theo quyết định thi Hnh án số: 98/2022/QĐ-CA ngày 31/10/2022 bị cáo hiện đang thi Hnh án tại Trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay, Đinh Trọng S chưa thi Hnh xong phần dân sự của bản án nêu trên. (Có mặt tại phiên tòa).
+ Bị hại: Cháu Nguyễn Thị P, S ngày: 17/01/2008(tại thời điểm bị xâm hại cháu 14 tuổi, 0 tháng, 01 ngày tuổi), trú tại: phòng trọ số 22, tầng 2, n H số 21, ngõ 49 phố T, phường T, Long Biên, H Nội. Mẹ đẻ cháu P là chị: Nguyễn Thị T, S năm: 1983, HKTT: phường T, TP. C, tỉnh H (cháu P vắng mặt; Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị hại:
Ông Lê Quang Đạo - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý n H nước T Hnh phố H Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 18/01/2022, khi chị Nguyễn Thị T, S năm: 1983, HKTT: phường T, TP. Chí Linh, tỉnh H (là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Thị P, S ngày: 17/01/2008) dậy đi làm sớm. Khi đó, trong phòng trọ số 22, tầng 2, n H số 21, ngõ 49 T, phường T, Long Biên, H Nội chỉ còn cháu Nguyễn Thị P và Đinh Trọng S, S năm 1964, HKTT: xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình (bạn trai của chị T cùng sống chung với chị T và cháu P tại địa chỉ nêu trên) thì Đinh Trọng S có bảo cháu P sang giường ngủ của S để nằm cùng. Do nhiều lần bị dọa nạt nên cháu P sợ và có ra nằm cùng S. Khoảng 15 phút sau, khi đang nằm cùng nhau trên giường thì S có dùng tay phải sờ vào bộ phận S dục và sờ vào vùng ngực của cháu P. Sau đó, S cầm cổ tay của cháu P đút tay vào trong quần của S, bắt cháu P cầm dương vật của S đến khi dương vật của S cứng lên. Sau khi dương vật cứng lên, S dùng tay phải cởi quần của cháu P, và bắt đầu thực hiện Hnh vi quan hệ tình dục với cháu P. Một lúc sau, thì S có rút dương vật ra khỏi âm đạo của cháu P (chưa xuất tinh dịch vào trong âm đạo). Sau khi quan hệ xong, S có bắt cháu P đi rửa bộ phận S dục và cháu làm theo. Sau đó, S đi ra khỏi n H đi làm còn cháu P ở trong n H. Sau khi bị S xâm hại tình dục vào sáng ngày 18/1/2022 cháu P đã kể sự việc trên cho cháu H (bạn quen trên mạng xã hội, hiện không rõ nhân thân lai lịch) và điện báo Tổng đài điện thoại Quốc gia Bảo vệ Trẻ em 111. Sau khi tiếp nhận thông tin tồng đài 111 đã điện báo UBND phường Thạch Bàn đồng thời báo tin đến Công an phường Thạch Bàn để giải quyết sự việc. Trước đó từ năm 8 tuổi đến nay, cháu P đã nhiều lần bị S xâm hại tình dục tuy nhiên do bị S de dọa nếu nói ra sẽ giết cả n H nên P không dám nói.
Ngay sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tiến Hnh khám nghiệm hiện trường, tiến hành đưa cháu Nguyễn Thị P đi giám định pháp y tình dục.
* Dấu vết, tài liệu, mẫu vật T giữ:
- 01 quần dài màu ghi của cháu Nguyễn Thị P.
- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng, số Imei 1: 354072099519234, số Imei 2: 354073099519232 của cháu Nguyễn Thị P;
- 01 điện thoại di động n Hn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen số Imei 1: 352884793314999, số Imei 2: 0353649453314996 của Đinh Trọng S;
- T 01 vỏ chăn màu vàng, đỏ có chữ “LV” trong phòng 22; 01 chăn màu đỏ họa tiết hoa văn trong phòng 22; 01 thảm màu xanh có họa tiết hoa văn trải trên phản gỗ (1,8x2)m trong phòng 22; 01 túi bóng màu đỏ bên trong có chứa các vỉ Tốc đều đã sử dụng một phần gồm: 02 vỉ “Zincap 500", 01 vỉ "Boganic", 01 vỉ "Giclada 60mg” 01 vỉ "Paralmax", 02 vỉ "Loperamid", 01 vỉ "PanforSR 500", 02 vi "NEWCHOICE", 02 túi "Phosphalugel”, 01 lọ dung dịch sát khuẩn tay", 01 tuýp màu trắng xanh “K-Y”.
- T 01 vỉ Tốc "Amariston” Tốc tránh thai khẩn cấp đã sử dụng hết.
* Kết quả giám định pháp y tình dục:
Tại bản kết luận giám định pháp y tình dục số: 225 ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y H Nội và bản kết luận giảm định ADN số: HT73.22/PY XNSH ngày 25/02/2022 của Viện pháp y Quân Đội đối với cháu Nguyễn Thị P kết luận như sau:
1. Tại thời điểm giám định trên cơ thể cháu Nguyễn Thị P không có thương tích gì. Không có điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe.
2. Màng trinh rách cũ, vị trí 6 giờ (vết rách sâu) và 8 giờ (rách nông), không có vết rách mới, không sây sát bầm tím, Lỗ màng trinh giãn rộng,
3. Xét nghiệm phát hiện dấu vết tinh dịch - PSA Card:
+ Dịch âm đạo, lau rửa bộ phận S dục: Âm tính (-)
+ Quần dài màu ghi (do cháu P không mặc quần lót): Dương tính (+).
4. Xét nghiệm nhuộm soi mẫu bệnh phẩm lấy từ dịch âm đạo: Không có hình ảnh tinh trùng trên tiêu bản.
5. Dấu vết trên tăm bông T mẫu dịch âm đạo, trên quần dài màu ghi của Nguyễn Thị P có ADN nhiễm sắc thể Y, trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu niêm mạc miệng của Đinh Trọng S trên các locus gen phân tích được.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tình dục bổ sung số: 475 ngày 19 tháng 04 năm 2022 của Trung tâm pháp y H Nội đối với cháu Nguyễn Thị P kết luận như sau:
1. Tại thời điểm giám định Xét nghiệm HCG. Âm tính (-); Xét nghiệm định lượng BHCG tại bệnh viện Đa khoa Medlatec: 0.12 U/L cho thấy cháu Nguyễn Thị P không có thai.
2. Kết quả xét nghiệm phân tích nhiễm sắc thể ngày 10/4/2022 của Bệnh viện Đa khoa Medlatec: Chưa phát hiện thấy bất thường di truyền ở mức độ nhiễm sắc thể. Vì vậy, cháu P không mắc hội chứng Down.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tình trạng tâm thần của cháu Nguyễn Thị P. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 371 ngày 29/11/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương xác định:
“Trước, trong khi bị Đinh Trọng S quan hệ tình dục và tại thời điểm giám định, bị hại Nguyễn Thị P có bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70.
Tại các thời điểm trên bị hại Nguyễn Thị P hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển Hnh vi.”
Kết quả xác minh tại Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông, trực Tộc Cục Trẻ em - Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội (Tổng đài điện thoại Quốc gia Bảo vệ Trẻ em 111): Vào lúc 11 giờ 45 phút, ngày 18/01/2022 cháu Nguyễn Thị P, S ngày 17/01/2008 (sử dụng số điện thoại 0904538509) trú tại phòng trọ 22, tầng 1, số n H 21, ngõ 49 Thạch Bàn, phường Thạch Bàn, Long Biên, H Nội cho biết thường xuyên bị bố dượng là Vũ Đình H S ngày 26/12/1973 xâm hại tình dục. Cháu bị bố dượng xâm hại tình dục từ khi 8 tuổi. Ngay trong sáng ngày 18/01/2022, cháu P bị bố dượng xâm hại tình dục: Sờ ngực, sờ bộ phận S dục, ép cháu sờ dương vật và ép quan hệ tình dục. Ông Hoạt thường xâm hại cháu vào lúc sáng sớm khi mẹ cháu là Nguyễn Thị T S ngày 12/7/1983 (bán Hng phở) đi làm hoặc khi có nhu cầu. Ông Hoạt còn theo dõi chu kỳ kinh nguyệt của cháu, nếu cháu chậm kinh, ông Hoạt sẽ mua que thử thai để bắt cháu thử. Khi ông Hoạt xuất tinh vào trong thì sẽ bắt cháu uống Tốc tránh thai. Ông Hoạt đe dọa cháu: “Nếu nói ra ông ta sẽ giết cháu”. Cháu không kể với mẹ vì mẹ rất thương ông Hoạt nên cháu sợ mẹ cháu sẽ không tin và bao che cho ông ta.
Kết quả tra cứu hệ thống nhận dạng vân tay (VAFIS) và cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ tại Cục V06 - Bộ Công an xác định: Vân tay trên chỉ bản của Vũ Đình H đồng nhất với vân tay của đối tượng Đinh Trọng S, S năm: 1964, HKTT: xã D, huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình là đối tượng đang bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hưng H, tỉnh Thái Binh khởi tố bị can (ngày 30/5/2013), và truy nã ngày 07/12/2013.
Tại cơ quan điều tra, bị can Đinh Trọng S không thừa nhận có hành vi giao cấu, xâm hại tình dục với cháu P. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ T thập được trong hồ sơ có đầy đủ cơ sở để khẳng định Đinh Trọng S có Hnh vi lợi dụng tình trạng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, không thể tự vệ được của cháu Nguyễn Thị P để thực hiện Hnh vi giao cấu trái ý muốn với cháu P.
Đối với việc cháu Nguyễn Thị P khai ngoài sự việc ngày 18/01/2022 thì trong khoảng thời gian nhiều năm trước đó, cháu P đã nhiều lần bị S thực hiện hành vi giao cấu, xâm hại tình dục, tuy nhiên do bị S de dọa nếu nói ra sẽ giết cả nhà H nên P không dám nói . Ngoài lời khai trên của cháu P thì không có các tài liệu, chứng cứ, để chứng minh nội dung sự việc nêu trên nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Cơ quan điều tra đã ghi lời khai chị Nguyễn Thị T xác định nội dung sau: Bản thân chị T đã ly hôn với chồng cũ và có con chung là cháu Nguyễn Thị P. Cháu P bị chậm phát triển tư duy từ nhỏ. Đến năm 2014, chị T quen biết và chung sống với Đinh Trọng S như vợ chồng (chị T và S chưa đăng ký kết hôn). S coi cháu P như con nuôi, chu cấp tiền kiếm được cho chị T trang trải cuộc sống của gia đình. Quá trình chung sống cùng S, cháu P không có biểu hiện bị S xâm hại.
Đối với 01 vỏ chăn màu vàng, đỏ có chữ “LV” trong phòng 22; 01 chăn màu đỏ họa tiết hoa văn trong phòng 22; 01 thảm màu xanh có họa tiết hoa văn trải trên phản gỗ (l,8x2)m trong phòng 22; 01 túi bóng màu đỏ bên trong có chứa các vỉ Tốc đều đã sử dụng một phần gồm: 02 vỉ "Zincap 500", 01 vỉ “Boganic", 01 vỉ “Giclada 60mg", 01 vỉ “Paralmax", 02 vỉ “Loperamid", 01 vỉ “PanforSR 500", 02 vỉ “NEWCHO1CEP, 02 túi “Phosphahigeĩ", 01 lọ dung dịch sát khuẩn tay, 01 tuýp màu trắng xanh “K-Y” xác định là các tài sản cá nhân của chị Nguyễn Thị T không liên quan đến vụ án nêu trên. Ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 11 trao trả lại cho chị Nguyễn Thị T là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng, số Imei 1: 354072099519234, số Imei 2: 354073099519232 xác định là các tài sản cá nhân của cháu Nguyễn Thị P không liên quan đến vụ án nêu trên. Ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 10 trao trả lại cho cháu Nguyễn Thị P là chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản cáo trạng số:31/CT-VKS- LB ngày 09/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố đối với bị cáo Đinh Trọng S về tội: Hiếp dâm theo điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, xem xét đánh giá về Hnh vi của bị cáo Đinh Trọng S đã xâm phạm đến tự do thân thể, xâm phạm sức khỏe danh dự, việc xâm hại tình dục đối với trẻ em được pháp luật bảo vệ nên có đủ cơ sở truy tố bị cáo S về Hnh vi Hiếp dâm đối với bị hại là cháu: Nguyễn Thị P, lúc bị xâm hại cháu mới 14 tuổi 0 tháng, 01 ngày tuổi là người hạn chế khả năng nhận thức, không thể tự vệ được. Từ nhận định này đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự quy định về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi đối với bị cáo Đinh Trọng S, và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b và điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 56, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt Đinh Trọng S mức án từ: 08(tám) năm đến 09(chín) năm tù, buộc Đinh Trọng S chấp hành hình phạt chung với Bản án số: 74/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 bị TAND huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình xử 15 năm tù về hai tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Buộc Đinh Trọng S chấp hành hai bản án là: 23(hai mươi ba) năm tù đến 24(hai mươi tư) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại cũng như gia đình bị cáo có xác nhận đã bồi thường cho bị hại theo yêu cầu và đã nhận là: 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng).
Xác nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường số tiền: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) cho bị hại, bị hại đã nhận không có yêu cầu gì.
Về tang vật đã T trong vụ án: Chiếc quần dài của bị hại và 01 vỉ thuốc hiệu “Amariston” Tốc tránh thai khẩn cấp chỉ còn vỏ, do liên quan hành vi phạm tội cho tịch T tiêu hủy. Một chiếc điện thoại di động đã T có biên bản là tài sản của bị cáo không liên quan trả lại cho bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo với thời hạn theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý cho bị hại có ý kiến tóm tắt theo bản bảo vệ cho bị hại gửi đến Tòa án: Bị hại là trẻ vị thành niên, do đó cần xem xét khách thể bị xâm hại được nhà nước quan tâm bảo vệ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, bị cáo mặc dù nhận tội có mức độ và cũng chỉ bồi thường phần nào nhưng hậu quả để lại đối với bị hại và dư luận là rất nghiêm trọng, cần có mức án nghiêm khắc.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người đại diện bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại cũng như người đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền lợi ích bị hại trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Xét bị hại là cháu P có đơn xin vắng vì lý do sức khỏe và đề nghị xét xử vắng mặt, cam đoan giữ nguyên lời khai trước đây, nên việc xét xử vắng mặt là phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự là đúng trình tự. Bị cáo thừa nhận không bị ép cung hay bức cung. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có Hnh vi thực hiện việc giao cấu trái ý muốn đối với bị hại, bị cáo cũng đã tác động đến gia đình bị cáo để bồi thường cho bị hại.
Tại phiên tòa hôm nay, qua hồ sơ và các tài liệu khác thể hiện bị cáo Đinh Trọng S và Vũ Đình H là một người, do Đinh Trọng S bị cơ quan công an huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình khởi tố ngày 30/5/2013 về Hnh vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo S bỏ trốn tháng 9 năm 2013, bị truy nã theo quyết định truy nã số: 01 ngày 07/12/2013 của cơ quan cảnh sát điều tra huyện Hưng Hà. Sau khi tiếp nhận vụ việc qua tổng đài 111 Trung tâm tư vấn và Dịch vụ truyền thông Tổng Cục Trẻ em-Bộ Lao động Thương Binh xã hội. Công an quận Long Biên tiếp nhận và làm rõ sự việc. Thời gian bỏ trốn bị cáo có sự quen biết với chị Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Thị P, thời gian này bị cáo đã sử dụng tên Vũ Đình H. Các chứng cứ này cũng phù hợp lời khai chị T xác định giữa chị và bị cáo sống cùng nhau với cháu P từ thời gian năm 2014 đến năm 2022, chị T sống như vợ chồng với bị cáo, bị cáo là người chu cấp cho hai mẹ con chị, chị và cháu P bị lệ thuộc vào bị cáo trong sinh hoạt hàng ngày. Bị cáo ban đầu không thành khẩn nhận tội do lo sợ phải chịu trách nhiệm hình sự, ảnh hưởng đến các con và gia đình của bị cáo sau này, mặc dù bị cáo chỉ khai nhận có mức độ (bút lục 162-163).
Xét các lời khai cùng các bản tự khai của bị cáo Đinh Trọng S tại cơ quan điều tra công an quận Long Biên ban đầu bị cáo không thừa nhận hành vi Hiếp dâm cháu P. Tuy nhiên các lời khai sau này làm việc với đại diện Viện kiểm sát thể hiện các bản kiểm điểm, biên bản lấy lời khai bị cáo tự thừa nhận lợi dụng sự hạn chế khả năng nhận thức điều khiển Hnh vi để giao cấu trái ý muốn bị hại vào ngày 18/01/2022. Điều này cũng phù hợp với chứng cứ sau:
+ Thứ nhất: bản kết luận giám định pháp y tình dục số: 225 ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y H Nội và bản kết luận giảm định ADN số: HT73.22/PY XNSH ngày 25/02/2022 của Viện pháp y Quân Đội đối với cháu Nguyễn Thị P kết luận như sau:
1. Tại thời điểm giám định trên cơ thể cháu Nguyễn Thị P không có thương tích gì. Không có điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe.
2. Màng trinh rách cũ, vị trí 6 giờ (vết rách sâu) và 8 giờ (rách nông), không có vết rách mới, không sây sát bầm tím, Lỗ màng trinh giãn rộng,
3. Xét nghiệm phát hiện dấu vết tinh dịch - PSA Card:
+ Quần dài màu ghi (do cháu P không mặc quần lót): Dương tính (+).
5. Dấu vết trên tăm bông T mẫu dịch âm đạo, trên quần dài màu ghi của Nguyễn Thị P có ADN nhiễm sắc thể Y, trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu niêm mạc miệng của Đinh Trọng S trên các locus gen phân tích được.
+ Thứ hai: Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 371 ngày 29/11/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương xác định:
“Trước, trong khi bị Đinh Trọng S quan hệ tình dục và tại thời điểm giám định, bị hại Nguyễn Thị P có bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70.
Tại các thời điểm trên bị hại Nguyễn Thị P hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển Hnh vi.”
Như vậy có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đinh Trọng S đã có hành vi hiếp dâm cháu Nguyễn Thị P ngày 18/01/2022 theo điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Hành vi này nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến Luật Bảo vệ trẻ em, ảnh hưởng lâu dài đến tinh thần, sự phát triển bình thường đối với trẻ vị t Hnh niên, đáng lên án và phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, phòng ngừa chung trong xã hội. Qua vụ án này cũng thấy vai trò trách nhiệm của những người làm Cha và làm Mẹ của các cháu đã không quan tâm chăm sóc, giáo dục chu đáo, có những quan hệ không rõ ràng với những người xung quanh. Chấp nhận ý kiến quan điểm của trợ giúp viên pháp lý cho bị hại.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, khắc phục bồi thường cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ phần nào, gia đình bị cáo có bố đẻ là ông Đinh Trọng Tặng là thương binh hạng 3/4, có các bằng khen, huân huy chương kháng chiến, bố vợ bị cáo là liệt sỹ. Áp dụng cho bị cáo Điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường số tiền: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) cho bị hại, bị hại đã nhận không có yêu cầu gì.
Về tang vật:
1/ Trả lại 01 điện thoại là tài sản của bị cáo, hiện lưu giữ tại Chi cục Thi Hnh án Dân sự quận Long Biên ngày 16/02/2023.
2/ Tịch T tiêu hủy: Tịch T tiêu hủy những vật dụng liên quan đến Hnh vi hiếp dâm: 01 chiếc quần dài màu ghi của cháu Nguyễn Thị P; tiêu hủy 01 vỏ Tốc dạng vỉ đã hết loại “Amariston”
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ : Điểm a Khoản 1 Điều 142, Điểm s, Điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 56 (Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án) Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Trọng S phạm tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng S: 08(tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt theo quyết định truy nã bản án trước 11/02/2022. Tổng hợp với hình phạt 15 năm tù tại Bản án số: 74/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 của TAND huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình có hiệu lực pháp luật.
Buộc bị cáo Đinh Trọng S phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 23(hai mươi ba) năm tù.
2/ Căn cứ: Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định mức án phí, lệ phí.
Xử lý tang vật:
+ Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày: 16/02/2023 tại Chi cục Thi Hnh án Dân sự quận Long Biên, TP H Nội:
- Tiêu hủy 01(một) chiếc quần dài màu ghi của cháu Nguyễn Thị P đã qua sử dụng.
-Tiêu hủy 01 vỉ thuốc: “Amariston” đã qua sử dụng
- Trả lại cho bị cáo S: 01(một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung Ggalaxy A12 màu đen có số Imei 1: 352884793314999, số Imei 2: 0353649453314996 (đã niêm phong) do không liên quan Hnh vi phạm tội.
3/ Án phí và kháng cáo, kháng nghị:
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có hạn 15 ngày kháng cáo, thời hạn tính từ ngày tuyên án, Bị hại và Người đại diện cho bị hại có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo; Bị hại; Người đại diện
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
bị hại, Người trợ giúp pháp lý
cho bị hại
- Viện kiểm sát quận Long
Biên
- THA quận
- Công an quận
Nguyễn Đăng Vĩnh
- TAND thành phố Hà Nội
- Lưu hồ sơ
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan - Viện kiểm sát quận Long Biên - THA quận - Công an quận - TAND t Hnh phố H Nội - Lưu hồ sơ | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |